Vinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo Slider

Tin tức mới nhất

Video Clip

Aikido

Chuyên mục : Võ Thuật
(6 bình chọn)
Lượt xem : 3271

Q.9, thứ Bảy, 12/8/2017,
 
Các bạn thân mến, võ thuật là một "dòng máu" chảy trong huyết quản của mình từ những năm 1988 khi mình còn rats "baby" (độ 17 tuổi). Mình đến với Aikido qua nhiều lý do:
 
1. Khi đó, như bao đứa trẻ khác, mình thích... "thể hiện". Mình thích mình trở thành một người anh hùng. Mình thích mọi người phải thấy được "sức mạnh" của mình. Mình thích... đánh đấm. Mình thích trở thành... "võ lâm minh chủ", đi giúp những kẻ yếu thế trong thiên hạ.....


2. Aikido cho mình thấy sự uyển chuyển trong cách khống chế tình thế bất lợi. Nó cho mình nhìn thấy được những hoa mỹ của một nghệ nhân trong việc dùng vũ đạo cơ thể tạo nên điều khác biệt trong võ học.


3. Mình bi "lậm" các bộ phim kiếm hiệp "bay nhảy" hoa hòe khi đó như "Thập Tam Thái Bảo", "Bao Công xử án".... Do đó, mình quyết định sẽ trở thành "Triển Chiêu" sau này..... 
 


 
 

 

 
 Còn giờ đây, việc mưu sinh, gia đình, và khi thời gian trở thành "người thầy" tuyệt vời giúp mình trưởng thành hơn thì mình thấy việc tập luyện một môn thể thao, đặc biệt là tập võ giúp mình kiện toàn thể chất, vững vàng tâm sinh lý để vượt qua những chướng ngại trong đời (mà mình ví nó như những gameshow cần phải "đi qua" nó để đạt đến thành công).
 
Mình là một sinh vật rất bình thường, cũng biết đau, biết vui mừng, hạnh phúc. Thế nhưng, các bạn trẻ được mình huấn luyện cứ "thần tượng" mình như là ... thần thánh giáng thế! Điều này thật không tốt cho sự phát triển của các bạn vì nó mang ý nghĩa phi thực tế. Và mình đã làm tốt vai trò "một người thầy trên bục giảng" - mang các em trở về thực tại để không khinh suất bất cứ hành động nào trong đời song cũng như công việc của các em. Do đó, môn võ này còn rèn luyện cho bạn những đức tính tốt để làm người, biết sống hòa đồng, uyển chuyển giữa muôn vàn khó khăn, thử thách lẫn trong gia đình, công việc và ngoài xã hội. Bạn sẽ biết sống kiên nhẫn hơn để chờ đợi gặt hái thành quả của mình,... Bạn còn có thể sử dụng nó để tự vệ khi thật sự cần thiết với tâm thế không hơn thua, không mưu cầu sự tranh giành hư vinh.

 

https://aikiaussie.wordpress.com/

(Bên trên là link của một trong những người thầy có ảnh hưởng lớn nhất đến công pháp và đạo pháp của Đẩu nhà tui.)


 
Bạn đã tập được môn võ nào? Bạn có cảm thấy tay chân cùng thân pháp của mình nhẹ nhàng, uyển chuyển, khéo léo, linh hoạt hơn trong mọi công việc thường nhật? Bạn có cảm thấy mình quyết đoán hơn? Sự cấu tạo tư duy tích cực nhạy bén hơn?,.... Vâng, không gì hơn là sự tập luyện, tập luyện và tập luyện.
 
Dưới đây là bài trích những thông tin liên quan đến bộ môn này. Mời các bạn cùng lược qua nhé! Thanks!
  
 


 
 


 Aikido việt nam - Sự hình thành và phát triển


 
Thể Dục Thể Thao là một sinh hoạt quan trọng cần thiết cho tất cả mọi người đã có từ ngàn xưa.
 
Thể Dục Thể Thao giúp cho cơ thể khoẻ mạnh, giải tỏa những áp lực về tâm lý, đồng thời giúp cho mọi người sống hoà hợp với nhau trong một cộng đồng hay một tập thể. Trong đó Võ thuật là một chi nhánh lớn của Thể Dục Thể Thao được mọi người yêu thích luyện tập.
 
Võ thuật là một tuyệt tác của nhân loại,nó giúp cho chúng ta có sức khoẻ tốt;sức chịu đựng bền bỉ - lâu dài; một ý chí sắt đá - kiên định; một lòng kiên nhẫn; một tinh thần thép và mẫn tiệp để chúng ta có thể hòa nhập vào cộng đồng loài người với một tư chất khoẻ mạnh - hoàn hảo và ích lợi nhất.
 
Không những thế,võ thuật,đặc biệt là môn Aikido còn có thể giới thiệu cho chúng ta một phương pháp phòng vệ hữu hiệu khi cần thiết nếu chúng ta chuyên cần luyện tập.
 
Ngoài ra, qua Aikido chúng ta còn có thể hiểu biết thêm đôi nét về tính cách-con người và văn hoá của đất nước bạn - đất nước của Thái dương và hoa Anh Đào để chúng ta có thể yêu thích hơn môn Nhật ngữ mà chúng ta đã - đang và sẽ học, làm giàu thêm vốn liếng-hành trang trên đường đời mưu sinh của chúng ta sau này .
 
Hơn thế nữa , việc luyện tập Aikido còn mang đến cho chúng ta tính cách kỷ luật, đầu óc tổ chức, ý thức trật tự xã hội;có tôn ti - trên dưới - lớp lang để chúng ta có thể trở thành những con người lễ phép - lịch sự – hữu dụng và dễ thương nhất khi hoà nhập vào cộng đồng nhân sinh.
 
Bên cạnh đó, Aikido còn là một môn võ đầy tình người với tiêu chí cao thượng của võ học là khống chế được tình huống và đối phương khi bị bắt buộc phải tự vệ nhưng không gây thương tích và ảnh hưởng-đe doạ đến tính mạng đối phương bởi vì tất cả chúng ta đều là những con người có sinh mạng, cần sống và sống tốt nhưng không hẳn đã hoàn hảo, không hẳn không mắc các sai lầm.Vậy thì không có lý do gì để chúng ta có thể vì tự vệ cho bản thân mà tước đi sinh mạng của người khác….
 
“Vũ trụ nhất gia” - Tinh thần đó của tổ sư Morihei Uyeshiba chúng ta không thể nào quên được. Võ học bao la, Aikido là một con đường dẫn chúng ta đến với võ học.
 
 

Lược sử sáng tổ Morihei Uyeshiba (14/12/1883 – 26/4/1969) :
 
 


Nói đến Aikido, chúng ta không thể nào không nhắc đến vị tổ sư của môn phái này.  Đó là Ngài Morihei Uyeshiba.
 

Ông Morihei Uyeshiba sinh ngày 14/12/1883 trong một gia đình nông dân ở quận Wakayama (ngày nay là Tanabe, một thành phố nhỏ gần Osaka,nước Nhật). Ông là người con trai duy nhất trong năm người con của một tiểu điền chủ tên Uyeshiba Yoroku, với một sản nghiệp gần 20 sào đất. Cụ Yoroku có chân trong hội đồng thị chính, đồng thời cũng là một nhân vật có tên tuổi trong thành phố Tanabe.
 

Ông đã thừa hưởng từ cha của mình dòng máu quả quyết của Samurai, nhiệt huyết công tác xã hội, giúp ích cho mọi người. Không chỉ thế, sự thích thú mãnh liệt về tôn giáo – thi ca – nghệ thuật từ mẹ đã tràn ngập khắp cơ thể ông.
 

 


 

 

Thuở thiếu thời, Morihei là một cậu bé thể chất yếu đuối, bệnh hoạn và dễ xúc cảm, nên ông luôn thích nằm nhà đọc sách thay vì nô đùa như những đứa trẻ đồng trang lứa bên ngoài. Năm lên bảy tuổi, cậu học chữ với một vị sư Phật Giáo tên là Fujumoto Mitsujo. Cậu đặc biệt thích nghe những câu chuyện hoang đường về những vị thánh lang bạt kì hồ như En no Gyoja, Kobodaishi và bị mê hoặc bởi những nghi lễ Phật Giáo huyền bí (giai đoạn này thường có những câu chuyện hoang đường lưu hành trong vùng Kumano do Kobodaishi từ Trung Quốc về thuật lại), và chúng gây ấn tượng sâu sắc vào tâm trí của cậu khiến cậu miên man trong những mộng tưởng vô tận. Cha cậu rất lo lắng vì khuynh hướng mơ mộng của cậu bé. Để triệt tiêu những mơ mộng hoang tưởng của con trai mình và cũng để tăng cường thể lực cho cậu, cha cậu đã kể những mẫu chuyện về ông tổ của dòng họ Morihei, Kichiemon, một trong những Samurai danh tiếng nhất trước đó cho cậu nghe và khuyến khích cậu tập Sumo, bơi lội. Cậu trở nên mạnh mẽ hơn và cuối cùng, cậu nhận ra việc cần thiết của sức mạnh sau khi cha cậu bị một băng nhóm tội phạm do phe đối lập chính trị đánh trọng thương.
 

Trong những năm đầu tiên học tiểu học, cậu còn nhận được sự ảnh hưởng đào tạo từ thầy giáo của mình là Nasu Tasaburo, trên cả hai phương diện là thể xác lẫn tinh thần. Vị này về sau trở thành một nhân vật quan trọng trong lĩnh vực tôn giáo. 
 

Năm lên 13 tuổi, cậu vào trường trung học Tanabe nhưng chỉ lưu lại đó 1 năm vì sở thích của cậu là học Soroban (một loại bàn toán của Nhật tương tự như bàn toán Trung Hoa). Morihei có năng khiếu đặc biệt trong môn này vì chỉ không đầy một năm sau, cậu tiến bộ đến mức trở thành phụ tá giảng viên. Sau đó cậu vào làm nhân viên cho sở thuế Tanabe. Tại đó, cậu phụ trách về thuế điền thổ . Trong lúc làm công việc thu thuế, cậu cũng lưu tâm đến các vấn đề của nông dân, ngư dân và cảm thấy bất bình vì những điều kiện làm việc tồi tệ của họ. Cậu tham gia vào những cuộc biểu tình đòi cải tổ, thay đổi một sắc luật mới về ngư nghiệp. Sau những cuộc đàn áp gắt gao, cậu xin từ nhiệm và lên thủ đô Tokyo. Nhưng trường học dường như đã nhàm chán với cậu khi mà nghị lực bị kích động của cậu cần một nơi thực thi để giải toả. Cậu có kiếm vài việc làm nhưng có vẻ tất cả đều không như mơ ước. Thoạt tiên, cậu làm một chân chạy việc trong một cửa hiệu bán sỉ. Vào mùa xuân 1902, cậu thuê một gian hàng tại Asakusa dưới bảng hiệu Uyeshiba Shokai ( cửa hiệu Uyeshiba ) để bán văn phòng phẩm cho các học sinh, sinh viên trong khu vực. Qua một thời gian ngắn ngủi kinh doanh , cuối cùng cậu nhận ra mình có một nỗi đam mê đặc biệt về võ thuật. Sau giờ đóng cửa tiệm, cậu thích thú lao vào việc luyện tập và nghiên cứu các kỹ thuật xưa của Jujutsu, đặc biệt là kỹ thuật thuộc hệ phái Kyto với võ sư Tozawa, đồng thời chàng cũng tập Kenjutsu (kiếm thuật) tại một đạo trường của phái Shinkage. Nhưng thật không may, sau ít tháng, một căn bệnh trầm trọng ( bệnh Phù Thủng ) đã khiến ông quay trở lại quê nhà, nơi mà sau đó ông kết duyên với một cô bạn thời niên thiếu là Itokawa Hatsu. 
 

Từ lúc trở về quê nhà, Morihei thề quyết tạo cho mình một thân thể cường tráng, lực lưỡng. Chàng khổ công theo đuổi một chương trình huấn luyện khắc nghiệt và tiệm tiến, dựa trên điều kiện sức khỏe và lực cơ bắp. Lúc 20 tuổi, dù có một chiều cao nhỏ bé ( 1,54m  5 Feet ), Morihei có một sức mạnh trên người bình thường rất nhiều. Nhưng sức mạnh thể xác thuần tuý vẫn không làm chàng thỏa mãn nên chàng quyết định đến Sakai (một thị trấn lớn gần thành phố Osaka ) học hỏi kiếm thuật của môn phái Yagyu (tên một gia tộc Samurai lừng danh ) với thầy Nakai. Ông còn thử thách mình bằng việc quyết định gia nhập quân đội. Nhưng ông bị từ chối vì không đạt được yêu cầu về chiều cao tối thiểu. Trong cơn thất vọng tột độ, ông chạy ngay vào rừng và treo mình trên những ngọn cây với sự cố gắng liều lĩnh mong mình có thể dài thêm chút ít. Không nản lòng, lần đăng ký sau, ông được gia nhập lính bộ binh của Trung đoàn bộ binh 61 đồn trú tại Osaka vào 1903. Cũng trong năm này tình hình giữa Nga và Nhật trở nên rất căng thẳng. Trong suốt thời gian tại ngũ, ông tạo được ấn tượng rất tốt với vị chỉ huy của mình. Chẳng bao lâu sau, ông trở thành nhà vô địch trong tất cả các môn luyện tập, đặc biệt là môn Ju-ken-jutsu (phương pháp đánh lưỡi lê).
 

 


 

 

Trung đoàn của Morihei được gởi đến mặt trận Mãn Châu. Tại đây, tác phong gương mẫu của ông đã khiến cấp trên lưu ý và ông được thăng cấp Trung sĩ. Khả năng chiến đấu của ông kỳ diệu đến nỗi các chiến hữu đặt cho ông biệt danh là “Heita no kami sama” (vua của các chiến binh). Vị sĩ quan cao cấp còn tiến cử ông đến Học viện quân đội quốc gia để được huấn luyện trở thành sĩ quan theo nghiệp binh, nhưng do nhiều lý do, ông đã từ chối khéo lời đề nghị đó để về lại quê nhà lo việc đồng áng. Trong suốt 4 năm chiến tranh ông không ngừng luyện tập võ thuật và vẫn giữ  liên lạc với võ sư Nakai môn phái Yagyu. Ông nhận được bằng của môn phái này vào năm 1908.
 

Trong thời gian này, Morihei tràn đầy sinh lực và chú tâm đến các vấn đề chính trị, xã hội trong vùng.

 
[2] Lược SỬ AKIDO VIỆT NAM QUA CÁC GIAI ĐOẠN :
 
 
Giai đoạn 1 từ năm 1958 đến 1964.
Giai đoạn 2 từ năm 1964 đến 1975.
Giai đoạn 3 từ năm1979 cho đến nay.
 


 
GIAI ĐOẠN I: 1958 – 1964:
 

 

Giáo sư Đặng Thông Trị (1928 – 1995) - Vị Thầy tiên khởi của Hiệp Khí Đạo Việt Nam và Hội Hiệp Khí Đạọ Việt Nam.


Thầy Đặng Thông Trị sinh quán tại Việt Nam vào ngày 17 tháng 11 năm 1928. Thuở thiếu thời, theo lời khuyên của một người thân trong gia đình, Thầy đã bắt  đầu tập luyện các môn Kung Fu ( Thiếu Lâm) và Boxing ( Quyền Anh) . năm 1949 khi chiến tranh chấm dứt, Thầy Trị sang Pháp để theo đuổi môn Tội Phạm Học ( Criminology) tại Đại Học Paris. Thầy vẫn tiếp tục trau dồi Kung Fu, nhưng lại bắt đầu tập thêm Judo ( Nhu Đạo). Thầy Trị có vóc người nhỏ bé, nhất là nếu so sánh với những người Châu Âu mà Thầy phải song đấu trong môn Judo. Vì lý do đó, huấn luyện viên Judo đã khuyên Thầy Trị nên  bỏ môn Judo để đổi sang  tập môn Aikido (Hiệp Khí Đạo). Thoạt đầu, Thầy Trị không ưa thích môn Aikido cho lắm, tuy nhiên những cảm nghĩ của Thầy sớm thay đổi và Thầy nhanh chóng đạt được tiến bộ trong môn này. Trong khi đó Thầy vẫn tiếp tục tập luyện môn Judo mà không hề quan tâm đến sức vóc cuả mình. Sau khi ra trường vào năm 1958, Thầy Trị trở về Việt Nam, nơi mà Thầy thành lập Liên Đoàn Nhu Đạo Toàn Quốc và lần đầu tiên giới thiệu môn Aikido đến cho dân chúng. Sau đó Thầy sang thăm viếng nứơc Nhật. Tại đây Thầy tiếp tục luyện  tập Aikido và được trường Aikikai thăng cấp lên Huyền Đai Đệ Tứ Đẳng. Một thời gian ngắn sau đó, Thầy Trị nhận được lờimời sang làm việc tại Viện Sinh Ngữ QuốcPhòng ( Defense Language Institute) và làm Chủ Tịch hội này trong thời gian hai năm.
 

Thầy Trị cũng còn dạy các môn Akido, Judo, Kung Fu, Tai – chi ( Thái Cực Quyền), và nhiều môn nưă.
 
Ngoài vệc nắm giữ một số chức vụ trong nhiều tổ chức khác nhau. Những chức vụ này bao gồm việc diễn thuyết tại Viện Đại Học Tiểu Bang California (California State University) và chức cố vấn đặc biệt cho Ủy Ban Đặc Nhiệm về Song Ngữ và Văn Hoá Song Phương của Bộ Giáo Dục Tiểu Bang California (California State Department of Educations Bilingual Bicutural Task Force). Thầy cũng còn phục vụ trong Ban Giám Đốc của USAF (U.S. Aikido Federation/ Liên Đoàn Aikido Hoa Kỳ), West Coast Division. Đến lúc mất, Thầy Trị mang Huyền Đai Đệ Lục Đẳng. Thầy Đặng Thông Trị là người đã mãi khắc ghi trong tâm khảm chẳng những của các môn sinh Aikido mà thôi, mà luôn cả các môn sinh trong những môn võ thuật khác mà Thầy đã từng dạy, cũng như của rất nhiều người khác nữa đã từng có cơ hội quen biết Thầy.  (Aikido Journal số 106, 1996 Bộ 23)
 

Sau 9 năm du học tại Pháp, Giáo sư  Đặng Thông Trị trở về Việt Nam năm 1958. Lần đầu tiên ông chính thức giới thiệu bộ môn Hiệp khí đạo tại Phòng tập Hàn Bái Đường, nơi mà trước đây ông đã từng theo học môn Thiếu lâm Hàn Bái Gia. Thời gain sau đó, ông Cao Xuân Vỹ, nguyên Tổng trưởng Thanh niên và Thể thao thời Đệ Nhất Cộng Hoà mời Gs. Trị cộng tác trong chức năng một chuyên gia võ thuật đặc trách về Hiệp Khí Đạo và Nhu Đạo.
 

Tại Thị Nghè, Sài Gòn. Gs. Trị bắt đầu với các lớp huấn luyện  Aikido cho đoàn Thanh Nữ. Kế đó là các lớp Nhu Đạo và Hiệp Khí Đạo tại trung tâm Huấn luyện Thanh niên Trung Cap Nguyễn Trãi, Chợ Lớn, nơi đào tạo cán bộ ngành Thể Dục và Thể Thao trực thuộc Bộ Thanh Niên và Thể Thao. Trung tâm Võ thuật Hàn Bai Đường. Năm 1960, Gs. Trị thành lập Hội Hiệp khí Nhu Đạo Việt Nam, văn phòng đặt tại đường Phan Thanh Giản lầu 3 Sài Gòn.
 

Gần cuối năm 1960, Võ sư Mutsuro Nakazono, Huyền đai 6 đẳng Aikikai từ Nhật bản sang Việt Nam để hổ trợ Gs. Trị trong việc phát triển Aikido tại đây. Ngoài việc huấn luyện tại đạo đường trung ương, Võ sư Nakazano còn được nhiều nơi mời dạy cả hai bộ môn Judo và Aikido như: võ đường Hoàng Hoa Thám, Nha Cảnh Sát Đô Thành, trường Vũ thuật và Thể Dục Quân sự Thủ Đức,.
 

Các buổi tập huấn diễễn ra khắp nơi, Gs. Đặng Thông Phong thường tháp tùng Võ sư Nakazono để chịu đòn (Uke). Võ sư  Nakazano rời Việt Nam vào giữa năm 1962.
 

Lúc bấy giờ võ sư Nhu đạo Hồ Cẩm  Ngạc có hướng dẫn Hiệp khí đạo cho một số môn sinh tại Sân Phan Đình Phùng, Sài Gòn. Tuy nhiên sở trường của ông là Judo và Karatedo cho nên ông không mấy chú tâm vào việc phát triển bộ môn này.
 

 


 

 

Giữa năm 1963, Võ sư  Tadashi Abe đến Việt Nam thăm Gs. Trị. Ông lưu lại Sài Gòn khoảng hơn 2 tháng và mở các lớp dạy tại Đạo đường Trung ương. Cả hai võ sư  Nakazano và Abe có huyền đai lục đẳng và là thầy của Gs. Trị trong thời gian ông du học tại Pháp. Năm 1964, Võ sư Nobuyoshi Tamura và phu nhân trên đường sang Pháp  có ghé thăm Đạo đường Trung ương 3 ngày. Võ sư Tamura nổi tiếng là một người chịu đòn (Uke) đắc ý trong các chuyến đi dạy học của Tổ sư Morihei trên khắp nước Nhật và là học trò Uchideshi của OSendei. Võ sư Tamura được Tổng đàn Aikido Quốc tế  (Hombu Dojo) cử sang Marseille để kiện toàn cơ cấu tổ chức tại Pháp.
 

Tạm dừng chân tại Việt Nam trong chuyến đi này, ông đã được Gs. Trị mời chấm thi cho một số huyền đai. Các ông Đặng Thông Phong, Trần Kỉnh và Bùi Duy Cảnh là những Aikidoka đầu tiên tại Việt Nam có được 2 đẳng do võ sư Tamura khảo sát. Một đẳng gồm có các ông Lê Xuân Phong, Bác sĩ Nguyễn Anh Tài , Đặng Văn Phát, Nguyễn Hữu Huy, Nguyễn thị Ngọc Chi, Phạm Văn Cư, Hà Văn Anh, Nguyễn Văn Quý.
 

Aikido Việt Nam dần dần phát triển rộng hơn là nhờ công lao đóng góp của lớp người đi trước mở phòng tập và thu nhận môn sinh để đào tạo thêm nhân sự. Tại Sở Thuyền vụ thuộc Tổng Nha Quan thuế, ông Lê Xuân Long mở phòng tập với phụ tá là ông Nguyễn văn Quí, phòng tập này hoạt động kéo dài khoảng 2 năm thì đóng cửa. Tại Sài Gòn, ngoài  các lớp huấn luyện chính tại Đạo đường trung ương ra, Gs. Trị còn đảm trách thêm phòng tâp Centre Culturiste.
 

Đầu năm 1963, Gs. Phong mở phòng tập Judo và Aidido tại Ty Thanh NIên Nha Trang vàTrường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế thuộc tỉnh Khánh Hòa. Cuối năm 1963, ông đổi ra Qui Nhơn làm việc và ông mở thêm phòng tập tại Ty Cảnh sát Quốc gia Bình Định. Một năm sau, vào tháng 10, năm 1964, Gs. Phong về Sài Gòn tham dự khoá đào tạo huấn luyện viên Taekwondo do phái bộ võ sư cao cấp Đại Hàn hướng dẫn tại trường Vũ Thuật và Thể Dục Quân Sự Thủ Đức.
 

Từ ngày Gs. Đặng Thông Trị về nước cho đến ngày ông rời khỏi Việt Nam 1964, phong trào luyện tập Aikido chưa được phát triển mạnh vì là một bộ môn võ thuật mới mẻ đối với nhân dân trong nước, vì thởi gain quá ngắn ngủinên chưa đào tạo được lớp các bộ để giảng dạy.Từ ngày Gs. Đặng Thông Trị về nước cho đến ngày ông rời khỏi Việt Nam 1964, phong trào luyện tập Aikido chưa được phát triển mạnh vì là một bộ môn võ thuật mới mẻ đối với nhân dân trong nước, vì thời gian quá ngắn ngủi nên chưa đào tạo được lớp các bộ để giảng dạy.
 

Các Phòng tập hay các lớp Aikido sau đây được hình thành:
 

- 1959. Đoàn Thanh Nữ Thị Nghè, Sài Gòn
Giáo sư  Đặng Thông Trị phụ trách.

- 1959. Trung Tâm Huấn Luyện Thanh Niên Trung Cấp Nguyễn Trãi, Chợ Lớn
Giáo sư  Đặng Thông Trị phụ trách.

- 1960. Đạo Đừơng  Trung Ương Hội Hiệp Khí Nhu Đạo Việt Nam.
Giáo sư  Đặng Thông Trị phụ trách.

- 1960. Trung Tâm Vũ Thuật Hàn Bái Đường, Sài Gòn, lớp Hiệp Khí Đạo. G.S Đặng Thông Trị phụ trách.

- 1961. Phòng Tập Hoàng Hoa Thám, Sài Gòn.
Võ sư Mutsuro Nakazono phụ trách.

- 1963. Sở Thuyền Vụ, Tổng Nha Quan Thuế, Sài Gòn.
Ông Lê Xuân Long phụ trách.

- 1963. Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế Nha Trang.
Giáo sư  Đăng Thông Phong phụ trách.

- 1964. Ty Cảnh Sát Quốc Gia Bình Định, thị xã Qui Nhơn
Giáo sư  Đăng Thông Phong phụ trách.
 

GIAI ĐOẠN II: 1964-1975
 

Giáo sư  Đăng Thông Phong - Sự Thành lập Tổng cuộc "Thiên Tâm Hội" Việt Nam - Aikido Tenshinkai Việt Nam
 

Giáo sư  Đặng Thông Phong sinh ngày 14 tháng 2 năm 1935 trong một gia đình cách mạng chống thực dân pháp. Khoảng  năm 1942 thân phụ ông sau lần diễn thuyết chống thực dân Pháp tại Huế, ông bị bọn mật thám truy lùng cho nên phải trốn tránh vào miền Nam. Hai năm sau, thân mẫu giáo sư Phong đem cả gia đình vào Nam và xuống tận Bến Tre để trốn tránh. Mới vào Nam, gia đình ông sinh sống tại Bắc Hàm Luông trong khu lò gạch Xã Bãy, rồi sau đó di chuyển đến quận Mỏ Cày, Cái Mơn rồi ổn định tại Cù lao Thanh Tân. Mãi đến cuối năm 1949 gia đình ông mới lên sinh sống tại Sài Gòn. Ban đầu ông sống với người anh rể là Bác sĩ  Nguyễn  Anh Tài. Hằng ngày ông quan sát những môn đồ Hàn Bái Đường luyện tập Thiếu lâm ngay tại phòng khách sau giờ khám bệnh. Ngày qua ngày những chiêu thức Thiếu lâm được chứng kiến đã in sâu vào tiềm thức ông và chẳng bao lâu sau, ông xin được thụ huấn  và đây cũng là bước khởi đầu dẫn dắt ông theo nghiệp võ suốt thế kỷ qua.
 

Ông khởi sự luyện tập Thiếu lâm Hàn Bái và Nhu đạo (Judo) vào đầu năm 1950. năm 19   , ông phụ trách lớp Judo và Thiếu Lâm tại trường trung học Minh Đức Trảng Bàng, Tây Ninh do ông Nguyễn Ngọc An làm hiệu trưởng. Mười lăm tháng sau ông rời trường Minh Đức để về Sài Gòn học Aikido với Gs. Trị vào năm 1958 và sau đó với Võ sư Mutsuro Nakazono. Cuối năm 1964, Gs. Trị giao đạo đường trung ương cho Gs. Phong phụ trách và 3 tháng sau ông quyết định giao toàn quyền cho Gs. Phong phụ trách Hội Hiệp Khí Nhu Đạo Việt Nam. Đây là giai đoạn mở đầu cho sự phát triển Aikido Việt Nam.
 

 


 

 

Tháng 10 năm 1964 giáo sư Trị có ý định sang California dạy Akido trong vòng 3 tháng theo lời mời của hội Judo Monterey California Hoa kỳ.Tiện lúc Gs. Phong đang có mặt tại Sài Gòn, Gs. Trị tạm thời giao Đạo đường Trung Ương cho Gs. Phong điều hành và phòng tập Centre Culturiste cho Bùi Duy Cảnh nhưng chỉ sau một thời gian ngắn sau đó phòng tập này ngưng hoạt động,
 

Ba tháng sau, Gs. Trị báo tin cho Gs. Phong biết là ông có ý định ở lại Hoa Kỳ và chính thức giao trách nhiệm điều hành hội Hiệp Khí Nhu Đạo Việt Nam và Đạo đường Trung Ương cho Gs. Phong.
 

Đây là giai đoạn nhiều thử thách cho Gs. Phong. Ông rất bối rối vì ngại không đủ sức cáng đáng lâu dài công tác điều hành Đạo đường Trung ương và Hội Hiệp Khí Đạo Việt Nam vì trong lúc này ông đang học khóa Taekwondo do phái bộ Đại Hàn hướng dẫn. Ông không có con đường nào khác ngoài việc phải nổ lực làm việc và quyết tâm giữ vững các hoạt động của Đạo đường trung ương và điều hành Hội. Trước trách nhiệm mới được ủy thác, với tấm lòng đam mê võ thuật sẵn có và tinh thần trách nhiệm cao độ, Gs. Phong đã vượt qua tất cả và chu toàn trách nhiệm của cấp trên giao phó. Một năm trôi qua, vào tháng 10 năm 1965, Gs. Phong đạt huyền đai Taekwondo hạng thứ 13 trong số 19 người tốt nghiệp trong tổng số khóa sinh là 69 quân nhân từ khắp bốn vùng chiến thuật về tập luyện tại Trung Tâm Vũ Thuật Thủ Đức.
 

Sau khi tốt nghiệp, Gs. Phong có cơ hội giành nhiều thời giờ hơn cho Đạo đường Trung ương. Ông đã triển khai thêm nhiều lớp Aikido mới tại đạo đường cùng lúc phát triển kế hoạch tạo cơ hội cho Aikido được quảng bá rộng rãi hơn trong quần chúng. Từ đó số môn sinh ngày càng gia tăng đặc biệt trong giới sinh viên, giáo sư, bác sĩ, kĩ sư và giới văn nghệ sĩ. Ý niệm về Aikido, một bộ môn võ thuật tự vệ, tự luyện ý chí với một triết lý hoà bình về một cuộc sống thanh cao, lành mạnh đã thu hút sự chú tâm của rất nhiều người, nhiều giới trong xã hội.
 

Trên đà phát triển như thế, ông mở nhiều lớp đào tạo cán bộ. Với hai đẳng vào năm 1964, Gs. Phong cho rằng ở cấp độ này khó có đủ uy tín để bảo vệ môn phái. Ông có ý định sang Nhật, Hombu Dojo, cái nôi Aikido của thế giới, để bổ túc thêm phần kỹ thuật cũng như để dự thi lên ba đẳng tại đây. Điều khó khăn vẫn là tài chính cho chuyến đi kể cả thời gian lưu trú tại Tokyo, vả lại đất nước đang trong thời kỳ chiến tranh, xin giấy tờ để được xuất cảnh ra nước ngoài không phải là chuyện dễ dàng. Những lí do đó một phần nào làm cản trở ý định của ông lúc ban đầu và đây cũng là bước thử thách thứ hai trong sự nghiệp của ông…
 

Ong phải làm việc tận lực và vất vã trong ba năm ròng rã để dành dụm đủ số tiền cho chuyến đi Tokyo như để trở về nguồn cội. Với quyết tâm và lòng nhiệt thành sẵn có, ông thực hiện cho bằng được chuyến đi Hombu Dojo như là phương cách tốt nhất để chuẩn bị cho một tương lai sáng lạng trong việc phát triển Aikido tại quê hương.
 

Đến 1967 ông mới thực hiện được hoài bảo mà ông đã từng ấp ủ. Diễm phúc cho ông là thời gian này tổ sư Morihei Ueshiba vẫn còn ra sân dạy vào buổi sáng, luôn luôn có sự hiện diện của Kishomaru Ueshiba, sau này là Đệ Nhị Trưởng môn Aikido. Trước khi về nước, ông đã dự thi lên ba đẳng tại cái nôi Aikido của thế giới. Ngaykhi trở về Việt Nam, ông liền soạn bản thảo nội quy để thành lập Tổng cuộc Aikido Tenshikai/ Thiên Tâm Hội Việt Nam.
 

Đầu tháng 1 năm 1968, Gs. Phong đã nhận được văn bằng ba đẳng từ Aikikai và một uỷ nhiệm thư do Tổ sư Morihei Ueshiba và Kisshomaru Ueshiba đồng ký chính thức uỷ quyền cho Gs. Phong phát triển Aikido trên toàn lãnh thổ Việt Nam trong tinh thần Yêu Thương và Hoà Bình.
 

Tên Tenshinkai là do Tổ sư đặt cho chi bộ Aikido Việt Nam vào thời Gs. Trị còn ở quê nhà và Gs. Phong là người được chính Tổ sư Morihei Ueshiba uỷ nhiệm để phát triển Aikido trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Đầu tháng 2 năm 1968, Bộ Nội Vụ ban hành một Nghị định cho phép Tổng cục Aikido Tenshinkai chính thức hoạt động.
 

Những năm sau đó, một võ sư người Nhật tên Ishikawa dạy Nhu đạo tại Câu Lạc Bộ Thể dục nằm trong khu công viên Tao Đàn đường Hồng Thập Tự, Sài Gòn có dạy thêm bộ môn Hiệp Khí Đạo thuộc hệ phái Yoseikan.
 

Song song với việc mở mang phòng tập, nhiều tài liệu  đã được in ấn để cho môn sinh và quần chúng hiểu biết thêm môn phái như:
 

- “ Hiệp khí đạo trong đời sống hằng ngày”, bản dịch từ  quyển sách Aikido in Daily Life của Kochi Tokei.
 

- 5 cuốn Giai Phẩm Hiệp Khí Đạo( Tổng cuộc chủ trương)
 

- Một loại bài giới thiệu về môn Aikido và Đạo đường Trung ương Aikido Tenshikai của tờ Kochi Tohei.
 

- Một loạt bài giới thiệu về bộ môn Aikido và Đạo đường Trung ương Aikido Tenshikai của tờ Nguyệt san Võ thuật do hai ông Lạc Hà và Phan Chấn Thanh chủ trương.
 

Trong vòng 19 năm từ tháng 10 năm 1964 đến tháng 4 năm 1975, các võ đường sau đây được hình thành dưới sự chỉ đạo của Tổng cuộc Aikido Tenshikai đã đi vào nề nếp. Đó là một nỗ lực vô cùng to lớn mà Gs. Phong đã cố công đóng góp cho sự phát triển Aikido Việt Nam trong một hoàn cảnh vô cùng khó khăn, chiến tranh tại nước này.
 
 

 


 
 


Aikido trong quần chúng và học đường :
 
 
- 1968. Đạo đường Trung ương Tổng Cuộc Aikido Tenshikai
Giáo sư  Đặng Thông Phong phụ trách.
 

- 1969. Võ đường Nha Cảnh sát Đô Thành
Võ sư Vương Quan Ba  phụ trách.
 

- 1971. Trường Trung học Thoại Ngọc Hầu, thị xã Rạch Giá.
Giáo sư  Nguyễn Nhựt  Quang phụ trách.
 

- 1972. Phòng Tập trường Nữ Trung học Công lập Gia Long
Nguyễn Thị Ngọc Chi phụ trách, Gs. Phong cố vấn kỹ thuật.
 

- 1972. Trường Nam Trung Học Công lập Pétrus Ký.
Giáo sư  Đặng Thông Phong phụ trách
 

- 1972. Trường Nam Trung học Công lập Chu Văn An.
Giáo sư  Đăng Thông Phong phụ trách.
 

- 1972. Trường Nữ Trung Học Công lập Trưng Vương
Giáo sư  Đăng Thông Phong phụ trách.
 

- 1973. Võ đường Aikido Lê lợi, thị xã Long Xuyên.
Bác sĩ Nguyễn Bội Hoàng phụ trách.
 

- 1973. Trung tâm sinh hoạt Thanh niên Duy Tân, Sài Gòn.
Dược sĩ Huỳnh Anh Hoa và ông Lý Văn Minh phụ trách.
 

- 1973. Trường Nữ trung học bán công Sương Nguyệt Ánh.
Võ sư  Trương Văn Lương (ba của thầy Nhơn đang giảng dạy tại Nguyễn Tri Phương, quận 10, có "một chân" trong hội) phụ trách.
 

- 1974. Đạo đường Đông Phương
Gs. Phong và ông Hoàng Việt Hùng phụ trách.
 
 
Aikido trong Quân đội :
 
1968. Trường sĩ quan Trù bị Thủ Đức
Giáo sư Đặng Thông Phong phụ trách.

1969. Trường Vũ thuật Thể Dục Quân Sự Thủ Đức
Giáo sư Đặng Thông Phong phụ trách.

1971. Trường Nữ Quân Nhân
Giáo sư Đặng Thông Phong phụ trách.

1971. Bộ Tư lệnh Không Quân
Tư dinh Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương
Giáo sư Đặng Thông Phong phụ trách.

1972. Sư đoàn 5 Bộ Binh
Võ sư Võ Hoàng Phượng phụ trách.

1972. Sư đoàn 18 Bộ Binh
Võ sư Trần Kỉnh và Thiếu tướng Lâm Quang Thơ phụ trách
Giáo sư  Phong cố vấn kỹ thuật

1973. Phòng tập tại Phi trường Bình Thủy/ Cần Thơ
Võ sư Đặng Văn Phát phụ trách.

1973. Trường sĩ quan Hiện dịch Đà Lạt
Thiếu tướng Lâm Quang Thơ và Trần Kỉnh phụ trách
Giáo sư Phong cố vấn kỹ thuật.

1974. Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu
Ông Lê Viết Đắc phụ trách, Gs. Phong cố vấn kỹ thuật
 
Trong quãng thời gian không dài, chỉ có 10 năm trong bối cảnh lịch sử của một đất nước chiến tranh triền miên, là một quân nhân trong thời chiến, Gs. Phong đã dành hết thời giờ ngoài công vụ để phục vụ cho lý tưởng là xây dựng một Tổng cuộc Aikido mạnh mẽ và đoàn kết để sánh vai với cộng đồng Aikido quốc tế. Có thể nói đây là giai đoạn mở mang và hưng thịnh nhất trong lịch sử của bộ môn Aikido mà Tổng cuộc Aikido Tenshinkai cố công xây đắp. Nó chính là cái nôi của Aikido Việt Nam mà mọi người sau này phải sát cánh bên nhau để xây đắp ngày càng vững chắc hơn.
 

 

Giai đoạn III từ năm 1979 cho đến ngày nay :
 
 


Sau ngày đất nước thống nhất, trong những năm đầu các môn phái võ thuật đều cấm chỉ hoạt động. Mãi đến năm 1979 các bộ môn như Dưỡng Sinh, Thái cực quyền và Aikido mới được phép hoạt động trở lại. Rồi từ đó các môn phái khác tuần tự được phép đi vào hoạt động. Năm 1979 Gs. Phong nhận làm cố vấn cho Aikido Quận 5 do Lý Văn Minh, môn đệ của Gs. Phong phụ trách, sau đó ông mở phòng tập có tên là sân Hawai thuộc phường 17, quận 1 rồi ông về quận Bình Thạnh nơi ông cư ngụ làm cố vấn kỹ thuật và đứng lớp giảng dạy. Ông Nguyễn Thành Công, một đệ tử đai đen của Gs.Phong có công gây dựng phòng tập này.
 

Từ khi hiệp khí đạo được chính thức sinh hoạt trở lại, các đệ tử của Gs. Phong nối gót ông trong việc phát triển Aikido tại Việt Nam gồm có: Trương Văn Lương, Đỗ thị Minh Thư, Võ Hoàng Phượng, Lý Văn Minh, Vũ Đại Thảo, Nguyễn Thành Công, Hoàng Việt Hùng, Ngô Quyền, Đỗ Hồng Nguyên, Trương Văn Thời, Đoàn Chí Công, Hoàng Kim Cương, Đỗ Kế Toại…
 
 


 
 


Những người nêu trên đã tiên phong đóng góp cho phong trào Aikido sau khi đất nước được thống nhất. Họ đã có công đào tạo một lớp người mới mà hiện nay môn sinh của họ trở thành những huấn luyện viên đứng lớp, trưởng bộ môn hay Chủ nhiệm các câu lạc bộ Aikido. Đó là lớp huấn luyện viên của thế hệ thứ hai và thứ ba tại Việt Nam.
 
 
Trước năm1975, Aikikai đã chính thức công nhận Aikido Việt Nam là hội viên của Tổng Đàn thế giới dưới sự lãnh đạo của Gs. Đặng Thông Phong.
 

Từ khi ông rời khỏi Việt Nam để sum họp với gia đình tại Hoa kỳ vào năm 1985 thì mọi sự lên hệ giữa Tổng cuộc Aikido Tenshinkai Việt Nam với Tổng Đàn Aikido Thế giới xem như không còn nữa. Bộ mộn Aikido Việt Nam bị xóa tên khỏi tổ chức Aikido quốc tế.
 

Năm 1994, ông liên lạc với hội Aikido tại Tp.Hồ Chí Minh để thảo luận phương hướng hoạt động và Hội đã chính thức mời ông về nước giúp đỡ. Gs. Phong hết sức phân cân và đắn đo vì ở thời điểm đó, cộng đồng người Việt sinh sống tại hải ngoại không muốn người Việt Nam trở về nước. Tuy nhiên vì lòng thương yêu Aikido Việt Nam, là đứa con tinh thần do ông tạo ra cần được giúp đỡ, các cố vấn của Gs. Phong tại Hoa Kỳ có ý khuyên ông hãy chờ đợi một vài năm nữa may ra tình hình có thay đổi thì về cũng chẳng muộn nhưng ông không nghe.
 

Nhân chuyến trở về này, Gs. Phong cũng ngỏ ý mời võ sư Masatake Fujita, Tổng Thư ký Tổng Đàn Aikido Thế giới cùng về để thẩm định tình hình Aikido tại Việt Nam hầu có thể xin tái công nhận Aikido Việt Nam như trước năm 1975.
 

Qua chuyến đi lịch sử này, Aikido Việt Nam đạt được nhiều thành quả đáng kể như:
 

1/ Các môn sinh cao cấp của Gs. Phong trước năm 1975 đều được cứu xét và nâng đẳng vì công lao đóng góp cho sự phát triển Aikido tại Việt Nam sau khi Gs. Phong rời khỏi đất nước.
 

2/ Hằng năm, Aikikai đều gửi phái đoàn võ sư qua Việt Nam để bổ túc kỹ thuật cho môn sinh.
 

3/ Vì nhu cầu phát triển, Hội Aikido Tp.Hồ Chí Minh cũng đã nhiều lần mời Gs.Phong về nước mở lớp huấn luyện để nâng cao trình độ kỹ thuật cho môn sinh tại quê nhà.
 

 4/ Môn sinh luyện tập lâu năm được Gs. Phong khảo sát và nâng họ lên 3 và 4 đẳng.
 

5/ Văn bằng đai đen Aikido Việt Nam được hợp thức hóa ngang với văn bằng Tổng cuộc Aikido Tenshinkai quốc tế theo sự yêu cầu của Liên Đoàn Võ Thuật Tp. Hồ Chí Minh.
 
 
Tại Việt Nam, sau 1975, ông Trần Kỉnh có sinh hoạt Aikido trở lại và ông lập ra hệ phái Aikido dưỡng sinh nhưng rồi cũng không đi vào quần chúng được vì chẳng mấy ai theo. Tại California vào năm 1983-84, ông Bùi Duy Cảnh mở các lớp Aikido tại Orange Country nhưng không thành công, bỏ cuộc sau vài năm hoạt động.
 

Thế hệ đầu tiên chỉ có Gs. Đặng Thông Phong là người duy nhất còn sinh hoạt Hiệp khí Đạo và ông vẫn lãnh đạo hệ thống Tenshinkai, ngôi trường Mẹ của Hiệp Khí Đạo Việt Nam cho đến ngày nay.
 

Mặc dù danh tánh Aikido Việt Nam đã trở lại trên bản đồ thế giới, cho đến nay Aikido Việt Nam vẫn chưa có một tổ chức hợp nhất để đại diện cho quốc gia trong cộng đồng Aikido thế giới.
 

Trong vòng 10 năm, Hội Aikido Tp. Hồ Chí Minh đã mời Gs. Đặng thông Phong trở về Việt Nam tổng cộng 7 lần để giúp đỡ, nâng cao trình độ kỹ thuật cũng như phong đẳng cho một số môn sinh để họ có thêm uy tín trong việc giảng dạy và phát triển bộ môn. Trong các dịp ông có mặt tại Việt Nam, ông cũng kêu gọi mọi người vì tương lai của bộ môn hãy xóa bỏ những tị hiềm, tham vọng cá nhân mà ngồi lại với nhau hầu đưa môn phái này mau chóng góp mặt với cộng đồng Aikido thế giới, ông luôn luôn đứng sau lưng họ để hỗ trợ bộ môn.
 

Nhưng tiếc thay, Aikido đã có mặt tại Việt Nam  gần nửa thế kỷ mà vẫn chưa được gia nhập vào các tổ chức quốc tế! Tiếc lắm thay!
 
 


 

 

Tại Hải ngoại, dưới sự lãnh đạo của Gs. Đặng Thông Phong, Aikido Tenshinkai luôn luôn là một khối duy nhất, mọi người hợp nhất để cùng nhau xây dựng bộ môn trong tinh thần Thưong yêu và Hòa bình do chủ trương của Tổ sư Morihei Ueshiba đặt ra .


Sau này, khi tôi bắt đầu tập Aikido vào năm 1989, tôi có biết thêm một số sự kiện khác diễn ra  như :
 

- 1984 : Aikido cùng một số môn võ khác được phép hoạt động lại. Thầy Phong cùng các môn đệ của mình  như thầy Phượng, thầy Thiện, thầy Ký, thầy Công, anh Cương, anh Danh, anh Nguyễn,... trụ lại Bình Thạnh, gầy dựng nên câu lạc bộ Aikido Đakao, Q1 và câu lạc bộ Aikido ở trung tâm TDTT số 8, Phan Đăng Lưu, Q.Bình Thạnh.
 

- Sau đó ít lâu, năm 1985, Sở Thể Dục Thể Thao chính thức cho phép Aikido thành lập ban chuyên môn. Các môn đệ khác của thầy Phong như thầy Phát-cô Loan, thầy Kỉnh, thầy Vinh, thầy Lương, thầy Thảo,... chia ra cát cứ ở các Quận và tỉnh thành như Q1, Q3, Q5, Q10, Q.Bình Thạnh, Q.Thủ Đức, Đà Lạt, .....đào tạo nên thế hệ trẻ sau này.
 

-1986, thầy Phong qua Mỹ đoàn tụ gia đình và tiếp nhận liên đoàn Tenshinkai Aikido từ anh trai của mình.
 

-1988, liên đoàn Tenshinkai Aikido được đổi tên thành International Tenshinkai Aikido Federation, trụ sở đặt tại Westminster, quận Cam, California, USA.
 

-1989, Ban chuyên môn TP.Hồ Chí Minh phát triển thành Hội Aikido TP.Hồ Chí Minh và lần lượt do các thầy Nguyễn Tăng Vinh, Võ Hoàng Phượng, Đỗ Hồng Nguyên, Đỗ Thị Minh Thư, Võ Trường Thọ,Trương Văn Lương, Đặng Văn Phát, Nguyễn Thị Thanh Loan,  Võ Đại Thảo, ông Đoàn Phú Hiệp, ông Ngô Lập Nhân, ông Bùi Thế Cần và thế hệ sau này là anh Nguyễn Văn Linh, anh Lê Văn Hoàng, anh Lê Kim Hà,...đảm nhận các trọng trách trong ban chuyên môn Hội Aikido TP.HCM cho đến ngày nay (2006).
 

-1991, Liên Đoàn Aikido Tenshinkai Quốc Tế được Tổng Đàn Aikido Thế Giới chính thức công nhận nằm trong hệ thống Aikikai và được phép hoạt động tại Mỹ.
 

-9/11/1994, lần đầu tiên, Sensei Đặng Thông Phong trở về thăm lại Việt Nam với tư cách là Chủ Tịch Liên Đoàn Aikido Tenshinkai Quốc Tế cùng ông Tổng Thư Ký Aikido Thế Giới là Sensei Masatake Fujita. Ngoài ra, lần trở về này, ông còn mang theo một thông tin quý giá là Chi Hội Aikido TP.Hồ Chí Minh được chính thức gia nhập trở lại Tổng Đàn Aikido Thế GIới. Đồng thời Hội Aikido Việt Nam đã mở rộng phát triển phong trào xuống các tỉnh thành bạn như Huế, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Đà Lạt, An Giang, mở đầu cho sự giao lưu Quốc Tế về sau.
 

-1995, thầy Phong thành lập chi nhánh Aikido Tenshinkai tại châu Âu.
 

-3/3/1996, Sensei Mayato Osawa của Tổng Đàn Aikikai đã đến Việt Nam giao lưu, hướng dẫn và tập huấn cho các môn đệ Aikido ở Việt Nam.
 

-7/7/1996, Tổng Đàn Aikikai Nhật Bản đã chính thức công nhận Hiệp Hội Aikido Việt Nam nằm trong cộng đồng Aikido Thế Giới.
 

-20/2/1997, tại lễ kỷ niệm 29 năm thành lập Liên Đoàn Aikido Tenshinkai Quốc Tế ở Westminster, California, Shihan Masatake đã đại diện Đạo chủ Kisshomaru Ueshiba trao chứng chỉ Lục đẳng (Rokudan) Huyền đai Aikikai Quốc Tế cho thầy Đặng Thông Phong.
 

-4/12/1998, Sensei Koichi Toriumi (thất đẳng=Shichidan) cùng Sensei Kirayuki Sukurai (tứ đẳng=Shidan) thuộc Tổng Đàn Aikikai Nhật Bản đã đến Việt Nam giao lưu và hướng dẫn các kỹ thuật mới cho Chi Hội Aikido Tenshinkai TP.Hồ Chí Minh.
 

-1999, các chi nhánh sau thuộc Hội Aikido TP.Hồ Chí Minh lần lượt ra đời : Aikido ở các đơn vị : Trung Tâm TDTT Khánh Hội (Q.4), TT TDTT Q.9, TT TDTT Q.Gò Vấp, TT TDTT Quốc Phòng 2, TT TDTT Quân Khu 7, TT TDTT Q11,....
 

-26/2/2000, Sensei Takanori Kuribayashi cùng Sensei Tomohoro Mori thuộc Tổng Đàn Aikikai Quốc Tế Nhật Bản đã đến thăm và giao lưu với Liên Đoàn Aikido TP.Hồ Chí Minh. Sau đó ít lâu, ngày 13/11/2000, thầy Đặng Thông Phong có về giáo huấn Aikido tại Việt Nam.
 

-17/2/2001, các môn đệ trong Liên Đoàn Aikido TP.Hồ Chí Minh lại có dịp được trao đổi đòn-thế Aikido với hai vị Sensei từ Tổng Đàn Aikikai Nhật Bản đến Việt Nam: Sensei Shigeru Sugawara và Sensei Tomohoro Mori.
 

-28/9/2001 và 4/11/2001, Shihan Takeshi Kanazawa, Masatake Fujita và Sensei Đặng Thông Phong lần lượt đến thăm và giáo huấn ở Việt Nam.
 

-25/2/2002, Aikido Việt Nam lại có diệp được tập huấn với các thầy Yoshiaki Yokota cùng phụ tá là ngài Hiroyuri Nanba.
 

-13/6/2004, Shihan Đặng Thông Phong (Aikikai Rokudan=Lục đẳng Aikikai) lại có dịp trở về giáo huấn ở  Việt Nam.
 

-2005-2006, các thầy Shihan Takeshi Kanazawa (Rokudan) và Yuichi Kodani (Sandan) đã ghé qua giáo huấn ở Việt Nam.
 

 
Sau này, có nhiều sự kiện tranh chấp, viết báo bêu xấu nhau trong Hội là những điều không tốt, không thích hợp với tinh thần của môn võ đặc thù Aikido nên tôi xin phép miễn nêu ra đây.

 

Thêm nữa,có một bài báo lược sử các hoạt động của Hội Aikido TP.HCM từ năm 1975 đến năm 2005 do ông Bùi Bàn Sơn viết cho tạp chí Võ Thuật TP.HCM 30 Năm-Một Chặng Đường. Các bạn có thể đánh từ khóa trên Google để tìm hiểu thêm nhé!
 
 
Lời kết :
 
 
Năm 1989, tôi đến với môn võ Aikido sau khi đã cân nhắc và chọn lựa kỹ càng.

Aikido đã đem đến cho tôi nhiều lợi ích sau ngần ấy năm tập luyện. Từ một cậu bé ốm yếu ngày nào, bây giờ tôi đã khỏe khoắn và mạnh mẽ hơn. Không chỉ thế, tôi trưởng thành hơn trong cuộc sống. Aikido còn là người bạn thân thiết của tôi, tôi có thể tâm sự và trút những nỗi vui buồn của mình qua Aikido, qua những tiếng hét Kiai truyền thống của người bản xứ. Aikido đã đi vào đời sống của tôi như chính là bản thân tôi vậy, tôi chính là Aikido và Aikido cũng chính là tôi. Tôi có thể bỏ tất cả nhưng không thể bỏ Aikido. Có thể nói đây là duyên phận hoặc một nỗi đam mê vô bờ bến của tôi với Aikido.
 

Ngoài ra, tôi có tập thêm một số môn khác như Wushu, Karatédo, Vovinam,... tham gia tập huấn lớp Cascadeur TP.Hồ Chí Minh . nhưng những gì mà Aikido đem lại cho tôi, tôi không thể nào quên được. Nó như một ánh Bình Minh soi vào tâm hồn tôi, dẫn đường cho tôi đến với niềm đam mê võ thuật . 
 

Tôi chân thành cám ơn những người thầy mà tôi có may mắn gặp được trong bộ môn Aikido như thầy Võ Hoàng Phượng, thầy Thiện (dường như đã định cư ở Mỹ sau năm 1991),  thầy Nguyễn Tăng Vinh, thầy Thảo, anh Nguyễn, anh Nghĩa, anh Long, anh Liêm,... và một số bạn tập đã giúp tôi có được thành quả như ngày hôm nay.
 

Tuy nhiên, những năm vừa qua trong hội có xảy ra tình trạng mâu thuẫn , tranh chấp nhau là một điều đáng tiếc, không thích hợp với tinh thần thượng võ nói chung cũng như tinh thần yêu mến hòa bình đặc thù của môn võ Aikido nói riêng.
 
Chúng ta không thể nào trách được những con người có những tư tưởng hẹp hòi và những hành động thiếu văn hóa đó, bởi vì tôi thấu hiểu tất cả chúng ta đều là con người , đều có đủ thất tình , lục dục. "Chiếc áo không làm nên thầy tu". 
 
Một thực tế cho thấy, bạn là người phàm trần, bạn có thể mưu cầu hạnh phúc, lấy vợ, lập gia đình, sinh con, đẻ cái,... Nhưng một khi bạn muốn bước chân vào cửa Chùa, bạn buộc lòng phải xuống tóc, phải ăn chay, niệm Phật và phải tuân theo một số giáo điều trong cửa nhà Phật.
 
Vạn sự tất có trước sau! Một luống cam ngọt là những gì bạn có thể gặt hái được khi bạn biết thả xuống mảnh đất đó những hạt của trái cam. Sự trong sạch; thuần khiết của môn võ đặc thù mà chúng ta đang yêu thích theo đuổi vốn dĩ đã được đúc kết theo tinh thần nhân bản mà tổ sư Morihei của chúng ta đã dày công trãi nghiệm : “Vũ Trụ Nhất Gia” , Aikido là môn võ của tình thương yêu và sự hòa hợp.
 
Lên một tầng lầu để được nhìn thấy xa và rộng hơn. Mở rộng tâm hồn bao trùm Vũ Trụ, hòa nhập với Tạo Hóa bao la để có được cảm nhận hạnh phúc thật sự khi được làm người, khi được tập Aikido.                    
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Gửi bình luận

Hãy nhập đầy đủ các thông tin yêu cầu trong ô có dấu (*). Không được phép sử dụng mã HTML.



Địa chỉ: 147/11, đ.Tân Lập 2, tổ 3, k.p.6, – P. Hiệp Phú – Q. 9 – TP.HCM

Điện thoại: +84.918.12.17.12  or  +84.948.12.17.12

Email: kimdaunguyen@dausaigon.com

Thống kê truy cập

3116235
Hôm nay
Trong tuần
Tất cả
1830
9420
3116235

Joomla Templates - by Joomlage.com