Vinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo Slider

Tin tức mới nhất

Video Clip

Người Hoa với Miếu Bà Thiên Hậu

Chuyên mục : Văn Hóa
(7 bình chọn)
Lượt xem : 765

20/12/2017, Saigon những ngày giá rét,

 

Ôn Cố Tri Tân – Cảo Thơm Lần Giở:

 

Người Hoa ở Saigon

 

“Trãi bao thế sự vuông tròn,
Kẻ buôn Kim tỉnh, người bòn dăm xu”.


(Nguyễn Kim Đẩu)

 

Tôi lần bước dõi theo một bóng khuất của bác kia đẩy vội chiếc kút kít đi mót ve chai. Ở ngần tuổi tầm 70, không ai trong chúng ta mong muốn gì hơn được đi đây đó, thỏa chí tang bồng với người đầu ấp tay gối mỗi đêm, và có đủ sức khỏe để tươi cười, tán gẫu với chúng bạn ở một góc khuất café. Rồi mỗi sáng thức dậy nghe tiếng chim hót lanh lảnh nơi đầu hè, cùng tập Tai – Chi, vui vầy với đàn con cháu….

 


Vâng, nhưng chúng ta không phủ nhận nơi đâu đó nhịp sống dường như chậm lại. Nó cho chúng ta cơ hội chiêm nghiệm về cuộc đời, về những sự việc diễn ra tận những thuở xa xưa. Qua lăng kính của tách coffee phố thị, ta thấy thời gian như nhỏ giọt chậm rãi theo từng bước chân đã có phần mỏi mệt nhưng đều đặn với những vết xước của thời gian từ các bác phu xe, những người lao công, và những kẻ đi nhặt ve chai….

 

 

 


Ai trong số chúng ta không ít nhất một lần trong đời đi ngang khu phố người Hoa ở Chợ Lớn? Khi còn học phổ thông, tôi hay đón bus lên đây để học tiếng Hoa dù chỉ một tháng. Rồi tiện thể tôi ghé thăm người bác ruột đã dắt tôi đi vượt biên những năm sau giải phóng, được xem người Hoa họ tổ chức múa Lân vào những dịp Tết rất náo nhiệt với từng bước chân điệu nghệ của họ thoăn thoắt qua các cọc Mai hoa thung chót vót đến thót tim. Sau đó là tiếng pháo vang giòn của lễ hội… Nhưng xa xa vẫn có những bước chân chậm rãi của các bác già đi mót ve chai đệm thêm cho khung cảnh Saigon một nét thi vị khó diễn tả.

 


Ít ai trong chúng ta ngờ được đó cũng chính là một trong những công việc đầu tiên mà huyền thoại hay truyền thuyết lưu dấu bước chân sơ khai của người Hoa thuở ban đầu lập nghiệp trời đất phương Nam. Những điều làm nên huyền thoại chú Hỏa, chú Tiều khi xưa ("Nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa" (Huyện Sĩ - Lê Phát Đạt; Tổng đốc Phương - Đỗ Hữu Phương; Bá hộ Xường - Lý Tường Quan và chú Hỏa - Hui Bon Hoa).


Chú Hỏa (1845-1901), tên thật là Huỳnh Văn Hoa (黃文華), vốn người làng Văn Tang, thuộc Gia Hòa Sơn, huyện Tư Minh, tỉnh Phước Kiến, nay thuộc khu vực Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc., tên Latinh là Jean Baptiste Hui Bon Hoa, một thương nhân người Việt gốc Hoa. Ông là một trong tứ đại hào phú của Sài Gòn xưa vào nửa đầu thế kỷ 20 mà dân gian từng tôn vinh: "Nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa" (Huyện Sĩ - Lê Phát Đạt; Tổng đốc Phương - Đỗ Hữu Phương; Bá hộ Xường - Lý Tường Quan và chú Hỏa - Hui Bon Hoa). Tuy xếp thứ tư nhưng chú Hỏa là người có nhiều huyền thoại và để lại nhiều dấu ấn nhất, trong đó phải kể đến tấm lòng không chỉ thu vén cho riêng mình mà còn biết hướng tới cộng đồng của ông. Ông có nhiều đóng góp quan trọng trong sự hình thành bộ mặt thành phố trong thời gian này. Chú Hỏa sang Việt Nam khoảng năm 1863. Ông khởi nghiệp từ việc buôn bán ve chai, về sau ông đổi tên thành Jean Baptiste Hui Bon Hoa khi trở nên giàu có. Thành lập công ty Hui Bon Hoa, có thời là công ty bất động sản lớn sở hữu trên 20.000 căn nhà ở Sài Gòn đồng thời xây dựng rất nhiều công trình có giá trị lớn ở vùng Sài Gòn-Gia Định vẫn còn tồn tại đến ngày nay: Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Khách sạn Majestic, Bệnh viện Từ Dũ, Trung tâm cấp cứu Sài Gòn, khu nhà khách Chính phủ, nhiều ngân hàng, trụ sở mua bán ở Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, và các công trình nhà riêng, chùa chiền, bệnh viện khác. Các công trình này đóng góp một vai trò quan trọng trong việc hình thành bộ mặt phố thị Sài Gòn.

 

 

Nếu chúng ta không vồn vã rong ruỗi trên những chiếc xe máy tấp nập phố phường để làm tăng thêm sự náo nhiệt đô hội, mà lần bước chậm rãi thăm lại nơi chốn những đình đền cổ miếu của một bộ phận cư dân trú ngụ trên phần cuối của dãy đất hình chữ S – Tộc người Hoa ở Saigon. Chúng ta sẽ có một cơ hội khác để trãi nghiệm, và thông hiểu hơn giá trị tồn tại của thời gian.


Người Hoa đến với miền đất phương Nam từ rất lâu. Tôi thường nói với du khách của mình là riêng Ngài Mạc Cửu [(Mò Jǐu (鄚玖; 1655–1736) was a Chinese adventurer who played a role in relations between Cambodia and the Nguyen court] ở những năm 1671 trở đi, ông đã cùng hơn 400 đinh nhân, gia quyến dặm bước Trời Nam, mở ra một vùng đất trù phú, Tiên sa, cá vẫy đuôi bơi lội: Phú Quốc và Hà Tiên.


Rồi những năm kế tiếp 1679, hơn 3000 binh tướng [vốn là nội tướng của Ngài Trinh Thành Công (Zhèng Chéng Gong: 1624-1662), một danh tướng kiệt xuất thời kỳ cuối nhà Minh, đầu nhà Thanh. Trong nỗ lực cuối cùng của mình sau 16 năm dày công “phản Thanh phục Minh”, ông đã đưa hết tướng sĩ và gia quyến vượt biển di cư sang Đài Loan lập nghiệp, xây dựng lực lượng quân sự vững mạnh cho đến 1663 thì con trai ông bị bộ tướng cũ Thi Lang (Shi Láng: 1621-1696) đã đầu quân nhà Thanh do đã có ân oán trước mang quân sang tiêu diệt.] với những người cầm đầu là tổng binh trấn thủ đất Long Môn (Quảng Tây) Dương Ngạn Địch (1688), phó tướng Hoàng Tiến; tổng binh châu Cao, châu Lôi, và châu Liêm (thuộc Quảng Đông) là Trần Thượng Xuyên (1626-1720), phó tướng Trần An Bình, không chịu làm tôi nhà Thanh, đã lênh đênh trên 50 chiến thuyền xin được vào Kinh bằng hai cửa Tư Dung và Đà Nẵng (nay là cửa Hàn thuộc Quảng Nam). Dâng sớ thần phục, làm dân mọn xứ Việt.

 

 

 


Chúa Hiền – Nguyễn Phúc Tần (18/7/1620 – 30/4/1687), là vị Chúa Nguyễn đời thứ 4 ở “Đàng Trong” thấy họ cùng quẫn mà chạy sang, lại tỏ bày lòng trung thực. Hơn nữa, xứ Đông Phố (một tên khác của đất Gia Định xưa) của nước Cao Miên, đất đai màu mỡ có đến ngàn dặm, triều đình chưa rỗi để lo liệu, chi bằng tận dụng sức lực của họ, giao cho họ khai hoang đất đai để ở. Vả lại, đây cũng là một quyết định mang tính chất chính trị sống còn, vì với hơn 3000 quân thiện chiến ở bước đường cùng sẽ giống như hổ đói. Nếu Chúa Nguyễn “hẹp bụng”, “say NO” thì chẳng khác gì ép họ vào “cửa tử”. Khi đó, tức nước sẽ vỡ bờ, và chính bọn họ sẽ biến ngay thành “thảo khấu”, đe dọa đến sự an nguy của kinh thành Chúa Nguyễn. Người ta nói, người miền Trung có gốc gác từ thời chúa Nguyến vốn tinh tế và thâm sâu quả không sai.


Nghĩ vậy, triều đình tổ chức khao đãi ân cần, chuẩn y cho giữ nguyên chức hàm, phong cho quan tước rồi lệnh cho tới Nông Nại (Đồng Nai) khai hóa đất đai. Mặt khác, triều đình còn hạ chỉ dụ cho Quốc vương Cao Miên (Thủy Chân Lạp) biết việc ấy để không xảy ra chuyện ngoài ý muốn.


Bọn tướng Long Môn họ Dương đem binh thuyền tiến vào cửa Xoài Rạp [nay gọi là Lôi Lạp (Soi Rạp)], và cửa Đại - cửa Tiểu (thuộc trấn Định Tường) dừng trú tại xứ Mỹ Tho (là trấn lỵ của Định Tường). Bọn tướng các xứ Cao, Lôi, Liêm họ Trần thì đem binh thuyền tiến vào cửa Cần Giờ rồi đồn trú tại xứ Bàn Lân thuộc Đồng Nai (là lỵ sở trấn Biên Hòa), đất Lộc Đã (tức là đất Đồng Nai thuộc Biên Hòa ngày nay).


Họ lo mở mang đất đai, lập thành phố chợ, giao thông buôn bán. Tàu thuyền người Hoa, người phương Tây, người Nhật, người Chà Và (người gốc Java), tụ tập tấp nập, phong hóa Trung Quốc dần dần lan ra thấm đượm cả vùng Đông Phố cùng hòa quyện với đầu óc tổ chức tinh vi của Ngài Mạc Cửu từng đến phương Nam trước đó đã làm nên một sự ổn định, phồn vinh cho một dãy Trời Nam.

 

 

 


Theo thống kê ghi chép lại thì có khoảng 1 triệu người Hoa sinh sống khắp nước Việt Nam (kể cả những người có gốc gác đến Vietnam trước đó trước hoặc sau thế kỷ thứ 10 vì lý do kinh tế hay chính trị, bởi Vietnam từng bị Trung Quốc đô hộ, biến thành quận huyện hàng ngàn năm), mà riêng ở Saigon đã có hơn 500.000 người.


Cũng trong những giai đoạn “phản Thanh phục Minh” này, một bộ phận của họ lại dong thuyền men theo Biển Đông xuống hình thành nên cư dân ở các lục địa Singapore – Malaysia – Australia (Nếu bạn có dịp đến đảo quốc Sư Tử - Singapore, đừng quên mua vé rong ruổi khắp nơi ở bán đảo Sentosa nhé! Tuy chỉ có 5 cây số vuông, mang ý nghĩa thanh bình và yên tĩnh, nhưng Sentosa lại mang đến cho bạn những ngày nghỉ thú vị thỏa mãn nhu cầu vừa nghỉ dưỡng của người lớn lẫn vui chơi – giải trí của trẻ em. Sure!).

 

 

 


[“In general, the Chinese in Singapore are grouped according to their respective ancestral homes in China or dialect group. Most came from the southeastern coast of China in the provinces of Fujian, Guangdong and Hainan. The Southern Min people (Hoklo, Teochew and Hainanese people) and Cantonese together form more than three-quarters of the Chinese population. The Hakka, Putian people, Fuzhou people and other groups account for most of the remainder. These are generally the descendants of the free and indentured immigrants from southern China during the 19th and early half of the 20th century and are typically known as "'native' Singaporean Chinese" (s 新加坡本地华人, p Xīnjiāpōběndì Huárén). The 1990s and early 21st century saw Singapore experience a third wave of migration from different parts of China.

 

Chinese immigrants to Singapore brought many of their ideas and values with them. Although they were influenced by western culture, many continue to uphold Chinese values such as Confucian respect for elders, filial piety, meritocracy, emphasis on education, courtesy etc. The Chinese taught in Singapore was also critical in propagating traditional Chinese values such as filial piety, respect and care for elders, social harmony and meritocracy etc. to the Chinese Singaporean.”].

 

 


Người Hoa họ có biệt tài về làm kinh tế và rất chịu khó mà không ai có thể phủ nhận được với văn vật chứng minh được sự linh ứng, giảo hoạt trong nghệ thuật chinh chiến lẫn kinh doanh qua các bộ kỹ xảo ứng xử từ Ngài Tôn Tẫn, Quỉ Cốc tiên sinh, thuật đoán quẻ, bói toán, dự đoán khí tượng thủy văn, mưa thuận gió hòa, võ thuật, y thuật mà chúng ta còn thầm phục giá như Ngài Hoa Đà sống thêm ít năm và không có một cuộc hôn nhân lầm lỡ, có lẽ y thuật phương Tây ngày nay phải đi xách dép hầu hạ cho Ngài ấy! Nói về người Hoa sẽ không có bút mực nào tả xiết về sự tinh tế, tài hoa, xứng với danh xưng mà mọi người gán cho họ - Người Hoa….

 

 

 


Tôi lần lữa, rảo bước lang thang đến chùa Thiên Hậu, một trong những ngôi đình cổ đẹp nhất còn xót lại in hằn vết tích thời gian không tàn phai nơi đây.


Chùa Bà Thiên Hậu (theo cách gọi của người Việt) còn được gọi là chùa Bà Chợ Lớn, tên chữ Hán là Thiên Hậu miếu, người Hoa gọi là Phò Miếu (tức miếu Đức Bà). Do bên cạnh chùa có Tuệ Thành Hội quán là nơi quy tụ của một nhóm người Hoa gốc huyện Tuệ Thành (Quảng Đông) di dân sang Việt Nam góp vốn và góp sức xây dựng, nên chùa còn được gọi là Tuệ Thành Hội quán.

 

 

 

 

Người Hoa họ có lối sống rất đoàn kết, tương thân, tương trợ lẫn nhau, Và tuân thủ qui tắc lập nghiệp để cùng nhau phát triển. Khi họ đến một vùng đất mới lập nghiệp, họ hay bầu ra một vị đậm người có giao thương và uy tín nhất của nhóm người đó để tổ chức hội họp, chia sẻ kinh nghiệm giao thương, thông tin trong bang hội, giúp đỡ lẫn nhau…. Có các bang hội điển hình với những đình – chùa gắn liền với tên tuổi bang hội của họ như: Quảng Triệu hội quán; Tuệ Thành hội quán; Ôn Lăng hội quán; Phước An hội quán;…

 

 

 


Tôi có chứng kiến vài lần du khách người Hoa khi đến tham quan chợ Bến Thành. Họ chỉ tìm đúng sạp của cô A để mua nhu yếu phẩm, những thứ mà họ cần dành làm quà cho bà con ở quê nhà, chỉ vì đơn giản cô A nói tiếng Hoa và có gốc gác với quê hương của họ. Mặc dù những shop của bà con Việt kế bên có bán rẻ hơn, hàng chất lượng hơn, họ cũng không mua (đặc tính “ủng hộ” đội nhà này chúng ta còn có thể tìm thấy ở nhưng cư dân Huế!).

 

 

 

 

“Hôm nay, huynh đệ người Hoa Ngũ Bang (5 bang hội) đến Hội quán Tuệ Thành - Thiên Hậu Cung, phụng bái chúc tụng Thiên Thu Khánh Đản "Thiên Hậu Thánh Mẫu". Nguyện "Thánh Mẫu" phù hộ Thế giới hòa bình, Quốc thái dân an, Phong điều vũ thuận, Nhà nhà ấm no, hạnh phúc”. Đó là lời tả mà Đẩu tui nghe được từ đâu đó.

 

 

(Một số hình ảnh trên đến từ chùa Bà Quan Âm cùng Nhị Phủ miếu gần đó)

 

 

Chùa Bà Thiên Hậu

 

[Lẽ ra nên gọi là Miếu vì nơi đây thờ Thần là chính. Sau đó với văn hóa hội nhập, cư dân ta thường ghép gộp luôn cả ba nền tảng thờ tự lớn vào chung một “bộ” với nhau, hình thành sự cộng hưởng Phật giáo – Đạo giáo – Nho giáo. Rồi sau này vào những năm 1926, chúng ta còn được thấy rõ hơn bản tính dễ cộng cư, hòa nhập của đồng bào miền Nam qua thể loại tôn giáo mới mà phương Tây thường ví von là “Cocktail Religion”: Caodaism.]

 

có vị trí quan trọng trong đời sống tín ngưỡng, sinh hoạt văn hóa truyền thống của người Hoa trong quá trình định cư ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Chùa thờ Bà Thiên Hậu Thánh Mẫu thu hút đông đảo đồng bào Hoa - Việt và du khách quốc tế đến thăm viếng và vãn cảnh mỗi ngày.

 

 

(Cách bày trí các bát đựng nhang luôn có một ý nghĩa nhất định)

 


Từ cuối thế kỷ XVII, khi rời Trung Quốc sang Việt Nam lập nghiệp ở Đề Ngạn (sau này gọi là Chợ Lớn), người Hoa đã biến khu vực này thành nơi tập trung sinh sống của họ cho đến ngày nay. Vào năm 1760, chùa Bà Thiên Hậu được một nhóm người Hoa gốc Tuệ Thành (tức Quảng Châu thuộc tỉnh Quảng Đông) di dân sang Việt Nam góp vốn và góp công xây dựng theo lối kiến trúc đặc trưng riêng của họ. Từ đó đến nay, ngôi chùa đã trùng tu nhiều lần nhưng vẫn còn giữ được phong cách vốn có góp phần tạo nên bản sắc văn hóa cho vùng đất Sài Gòn - Gia Định xưa. Trong đó, vật liệu để xây chùa lúc bấy giờ gồm gạch, ngói, đồ gốm... đều được đem từ vùng Nam Trung Quốc sang. Hiện chùa được tọa lạc tại số 710 đường Nguyễn Trãi, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

 

 

 


Sách Đại Nam nhất thống chí đã ghi: “Cách huyện Bình Dương 12 dặm, ở phía tả và phía hữu đường quan lộ. Nơi chợ có đường thông ra tứ phía đi liên lạc như hình chữ "điền", nhà cửa phố xá liên tiếp thềm mái cùng nhau, người Hán, người Thổ ở chung lộn dài độ 3 dặm, đủ cả hàng hóa trăm thức,...đầu phía bắc đường lớn có đền Quan Công, quán Tam Hội, xây cất đối nhau phía tả và phía hữu. Phía tây đường lớn có chùa Thiên Hậu, gần phía tây có Ôn Lăng Hội Quán...”.


Theo học giả Vương Hồng Sển thì Thiên Hậu Thánh Mẫu (vị thần được thờ chính trong chùa) có tên là Lâm Mặc Nương, người đảo Mi Châu, thuộc Bồ Dương (Phước Kiến). Bà sinh ngày 23 tháng 3 năm Giáp Thân (1044), đời vua Tống Nhân Tông. Sau đó, tám tuổi bà biết đọc, mười một tuổi bà tu theo Đạo giáo. Mười ba tuổi, bà thọ lãnh thiên thơ: thần Võ Y xuống cho một bộ "Nguyên vị bí quyết" và bà tìm được dưới giếng lạn một xấp cổ thư khác, rồi coi theo đó mà luyện tập đắc đạo.

 

 

 


Một lần, cha bà tên Lâm Tích Khánh ngồi thuyền cùng hai trai (anh của bà), chở muối đến tỉnh Giang Tây để buôn, giữa đường thuyền lâm bão lớn...Lúc đó bà đang ngồi dệt vải cạnh mẹ nhưng xuất thần để đi cứu cha và hai anh. Bà dùng răng cắn được chéo áo của cha, hai tay nắm hai anh, giữa lúc đó mẹ kêu gọi bà, buộc bà phải trả lời, bà vừa hở môi trả lời thì sóng cuốn cha đi mất dạng, chỉ cứu được hai anh. Từ đó mỗi khi thuyền bè ngoài biển bị nạn người ta đều gọi vái đến bà. Năm Canh Dần (1110) nhà Tống sắc phong cho bà là "Thiên Hậu Thánh Mẫu".

 

 

 

 

[Mazu - "Goddess of the Sea", or 'Tin Hau':

Simplified Chinese: 妈祖; traditional Chinese: 媽祖; pinyin: Māzǔ; Wade–Giles: Ma-tsu; Pe̍h-ōe-jī: Má-chó͘, Vietnamese: Ma Tổ; Foochow Romanized: Mā-cū; literally "Mother Ancestor"), also spelt Matsu, is the indigenous goddess of the sea who is said to protect fishermen and sailors, and is invoked as the patron saint of all Southern Chinese and East Asian persons.

Born as Lin Moniang (Chinese: 林默娘; pinyin: Lín Mòniáng; Pe̍h-ōe-jī: Lîm Be̍k-niû; Foochow Romanized: Lìng Mĕk-niòng) in Fujian around 960 CE, worship of Mazu began around the Ming Dynasty, when many temples dedicated to her were erected all across Mainland China, later spreading to other countries with Southern Chinese inhabitants.

Mazu is widely worshipped in the south-eastern coastal areas of China and neighbouring areas in Southeast Asia, especially Zhejiang, Fujian, Taiwan, Guangdong, and Vietnam, all of which have strong sea-faring traditions, as well as migrant communities elsewhere with sizeable populations from these areas. Mazu also has a significant influence on East Asian sea culture, especially in China and Taiwan.

 

 

 


According to legend, Lin Moniang was born on March 23, 960 (during the early Northern Song Dynasty) as the seventh daughter of Lin Yuan (林愿) on Meizhou Island, Fujian. She did not cry when she was born, and thus her given name means "Silent Girl."

There are many legends about her and the sea.

Although she started swimming relatively late at the age of 15, she soon became an excellent swimmer. She wore red garments while standing on the shore to guide fishing boats home, even in the most dangerous and harsh weather.

 

 

 

 

According to legend, Lin Moniang's father and brothers were fishermen. One day, a terrible typhoon arose while they were out at sea, and the rest of her family feared that those at sea had perished. In the midst of this storm, depending on the version of the legend, she fell into a trance while praying for the lives of her father and brothers or dreamed of her father and brothers while she was sleeping or sitting at a loom weaving. In both versions of the story, her father and brother were drowning but Moniang's mother discovered her sleeping and tried to wake her. This diverted Moniang's attention and caused her to drop her brother who drowned as a result. Consequently, Moniang's father returned alive and told the other villagers that a miracle had happened. Other versions of the story relate to four drowning brothers, with three returning and the fourth lost to her being revived (with no mention of a father).

 

 

 

 

Mazu is usually depicted together with two guardian generals known as "Thousand Miles Eye" (千里眼, Qianli Yan) and "With-the-Wind Ear" (順風耳 Shunfeng Er). Though their iconography can vary, both are usually represented as fierce demons; "Thousand Miles Eye" is often red with two horns, while "With-the-Wind Ear" is green with one horn. They are said to have been two demons whom Mazu conquered and subdued, turning them into her own loyal guardians and friends.

 

 

Mazu herself is usually depicted wearing a red robe in paintings or murals, but in sculpture is always clothed in the jewel-festooned robes of an empress holding either a ceremonial tablet or a jeweled staff whilst wearing the easily recognized flat-topped imperial cap with hanging beads at the front and back. If we can go to Matsu Village one time in our life, we can see The tomb of Mazu there.

 

There are at least two versions of Lin Moniang's death. In one version, she died in 987 at the age of 28, when she climbed a mountain alone and flew to heaven and became a goddess. Another version of the legend says that she died at age 16 of exhaustion after swimming far into the ocean trying to find her lost father and that her corpse later washed ashore on Nankan Island of the Matsu Islands.

 

 

 

Over time, the religions of Buddhism and Taoism borrowed popular deities from each other in attempts to attract devotees to their temples. In order to justify Mazu's presence in Buddhist temples, legends were circulated claiming that Mazu's parents prayed to Guan Yin for a son, but Guanyin answered their prayers with the birth of yet another daughter. It was then believed that Mazu was a reincarnation of Guanyin on earth, and it is Guanyin she is said to have been especially devoted to as a child.[6] As a result, Mazu is recognized and respected in both the Taoist and Buddhist pantheons of deities, while some Buddhists believe Mazu to be one of Guanyin's many manifestations.

 

 

 


After her death, the families of many fishermen and sailors began to pray to Mazu in honour of her acts of courage in trying to save those at sea. Worship of her spread quickly. Much of her popularity in comparison to other sea deities resulted from her role as a compassionate motherly protector in contrast to authoritarian father figures like the Dragon Kings. However Mazu is unique as she is portrayed as both an authoritative deity and a compassionate being. She is usually depicted wearing a red robe, and sitting on a throne. As often happens to revered folk heroes in Chinese culture, she became an empress figure during the Yuan Dynasty.

 

 

 

 

Starting from Fujian, worship of Mazu spread to the neighbouring coastal provinces of Zhejiang and Guangdong, and thence to all coastal areas of mainland China. With emigration and especially the Chinese diaspora of the 19th and 20th centuries, it further spread to Taiwan, Vietnam, Ryukyu, Japan, and South East Asia; the role of Mazu as patron of the seas ensured that newly arrived immigrants often erected temples to her first, to give thanks for arriving safely. Today, worship of Mazu is also found in other countries with sizeable populations from these regions. In total, there are around 1,500 Mazu temples in 26 countries of the world.]

 

 

 

 

Miếu Thiên Hậu (Tuệ Thành hội quán) có cấu trúc mặt bằng dạng chữ Quốc, được xây theo kiểu hình ấn, lối kiến trúc tam quan cách điệu với cửa vào ở chính giữa và hai hành lang, tạo sự thông thoáng để mọi người dễ dàng di chuyển trong những ngày đông người đến viếng, vốn là kiểu kiến trúc đặc trưng của người Hoa. Đây là tổ hợp 4 ngôi nhà liên kết nhau tạo thành mặt bằng giống hình chữ "khẩu" hoặc chữ "quốc". Ba dãy nhà ở giữa tạo thành tiền điện, trung điện và hậu điện. Giữa các dãy nhà này có một khoảng trống gọi là Thiên tỉnh (giếng trời), giúp không gian chùa thoáng đãng, đủ ánh sáng cho hậu cung và có chỗ thoát khói hương.

 

 

 


Trang trí ở các điện là hình hoa lá, chim thú và hoành phi, câu đối, biển tự thường là màu đỏ, vàng tạo sự ấm áp, tin tưởng. Chùa còn có các bức tranh đắp nổi liên hoàn, các con vật thuộc "tứ linh". Những câu đối và tranh đắp nổi được chế tác rất công phu, tỉ mỉ với những đường nét tinh tế.

 

Trong phong tục tập quán Việt (đã có ảnh hưởng văn hóa người Hoa cả ngàn năm) thì hoành phi là những tấm biển đồng có hình thức trình bày theo chiều ngang treo trên cao bên ngoài các gian thờ tại đình chùa, từ đường… Thường ở trên đó khắc từ 03 đến 04 chữ đại tự.

 

 

 


Từ ‘Hoành Phi’ nguyên nghĩa là bảng nằm ngang với ‘Hoành’ là ngang, ‘Phi’ là phô bày. Những bức hoành phi câu đối thường thể hiện lòng tôn kính với tổ tông, bề trên, thần thánh.v.v…với các câu phổ thông như:


‘Dữ Nhật Nguyệt’: Mãi sáng với Mặt Trăng, Mặt Trời.
‘Hộ Quốc Tí Dân’: Bảo vệ đất nước, che chở nhân dân.
‘Tích thụ kim hoa’: Cây xưa nở hoa nay.…


Được treo ở những nơi tôn nghiêm, hoành phi - câu đối vừa mang tính chất nghi lễ, vừa có giá trị về nghệ thuật. Những hoành phi cổ thực sự là di sản quý báu của cha ông. Trong thuật phong thủy thì việc treo hoành phi câu đối trong nhà cũng mang đến cho gia chủ nhiều niềm vui và may mắn.

 

 

 


Hoành phi có nhiều loại, có bức hoành phi sơn son chữ vàng, có bức sơn đen chữ đỏ hoặc vàng, cũng có những bức được chạm đồng rất cầu kỳ, đẹp mắt. Tuy nhiên, đặc sắc và độc đáo nhất phải kể đến những bức hoành phi được làm bằng kỹ thuật “chạm đắp”, với việc chạm riêng một vài chi tiết như đầu rồng, đầu chim, các loại hoa văn…sau đó đắp vào bức chính. Hoành phi được làm bằng đồng không mọt (như gỗ), được chạm lộng, gắn kết với nhau thông qua ngàm mộng chứ không dùng đinh. Hoành phi câu đối cổ thường được cấu tạo theo hai dạng chính là dạng hình chữ nhật và hình cuốn thư, ngoài ra còn có bức dạng chiếc khánh, hình ô van.

 

 

 


Theo một số tài liệu Hán tự cổ hay một số sách xem tử vi thì những chữ Hán (không dùng chữ Nôm) viết trên hoành phi (大字 đại tự) thường theo 3 kiểu cơ bản là chữ chân 真, chữ thảo草, chữ triện 篆. Nội dung có khi bày tỏ lòng tôn kính của con cháu đối với tổ tiên và những người có công với đất nước, thông thường chỉ có từ ba đến bốn chữ như: 万古英灵 “Vạn cổ anh linh” (muôn thuở linh thiêng), 留福留摁 Lưu phúc lưu ân (Lưu giữ mãi ơn đức), 護國庇民 Hộ quốc tí dân (bảo vệ nước, che chở dân); có khi mang ý nghĩa chúc tụng như 僧财进禄 “Tăng tài tiến lộc” (được hưởng nhiều tài lộc), 福禄寿成 “Phúc lộc thọ thành” (được cả phúc, lộc, thọ), 家门康泰 Gia môn khang thái (Cửa nhà rạng rỡ yên vui)…

 

 

(Donating papers from supporters)

 

 

Những chữ lạc khoản nhỏ hơn được ghi ở một hoặc hai bên bức hoành phi sẽ cho chúng ta biết thông tin về chủ nhân của hoành phi, người viết, người tặng, sự kiện tạo ra bức hoành phi đó, về thời gian xây dựng đình, đền, nhà thờ họ…

 

Hình trang trí trên các bức hoành phi như tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng), tứ thời (mai, lan, cúc, trúc), hình quyển sách và cây bút, hình thanh gươm… ngoài việc làm nổi bật thêm nội dung của những chữ trên bức hoành phi, còn thể hiện sự sáng tạo và thẩm mỹ của người tạo tác.

 

 

 

 

Hoành phi câu đối được treo ở những nơi thờ cúng như đình, đền, nhà thờ họ, phía trên bàn thờ gia tiên, nơi lăng mộ…Sau khi chọn xem ngày và định được ngày tốt thì bức hoành phi được treo ngay ngắn nơi chính giữa hoặc những vị trí trang trọng khác của đền, đình hoặc ngôi nhà, hướng ra ngoài, cố định và ít di chuyển, tạo cảm giác bền vững, lâu dài. Có gia đình chỉ treo tại bàn thờ tổ tiên một bức hoành phi, nhưng cũng có gia đình treo đến hai ba bức, thường là gia đình khá giả. Xưa, những nhà nghèo không có hoành phi bằng gỗ thường dùng những tấm cót, nẹp vào rồi dán những tấm giấy đỏ có viết đại tự lên.

 

 

 


Ngày nay, nhằm lưu giữ giá trị văn hóa của gia đình , dòng họ trường tồn với thời gian , các gia đình đang có xu hướng lựa chọn các mẫu hoành phi câu đối bằng đồng với độ bền cao , khả năng chống ăn mòn tốt. Nhờ đặc tính này mà những bức hoành phi câu đối bằng đồng mang độ nét và toát lên vẻ đẹp sang trọng cho không gian thờ cúng trong ngôi nhà.

 

 

 

Quay lại với miếu Bà, đặc biệt trong những ngày giá rét khác thường ở Saigon (20/12/2017), nếu chúng ta thả hồn chậm rãi theo từng bước chân diễm lệ của thời gian hằn khắc qua từng đường nét tinh tế - điệu nghệ của các lưu nghệ nhân xưa trên từng ngóc ngách – kẽ góc nơi nóc chùa, mái, hiên chùa cho đến các bàn thờ, vách tường... , chúng ta mới may ra có thể cảm nhận được hết vết tích – hơi thở của thời gian lưu dấu; sự mỹ miều mà một thuở những hỗn dân lưu vong cùng chung hòa một nhịp thở nơi “đất khách – quê người” qua các tượng tròn, phù điêu, trang trí hoa văn hình hoa lá, hình nhân bằng gốm sứ dày đặc nơi đây thể hiện những mong ước một cuộc sống an lành, ấm no, phồn vinh, và hạnh phúc; những sinh hoạt rất đời thường xa xưa do 2 lò gốm Bửu Nguyên và Đồng Hòa sản xuất vào năm Mậu Dần 1908.

 

 


 

Ngoài cổng chùa nếu chúng ta ngó lên nóc sẽ dễ dàng nhìn thấy các hoa văn, phù điêu trang trí bằng gốm sứ mô tả cảnh “lưỡng long tranh châu”, có hình ảnh tiên đồng, tiên nữ với hàng chữ “hòa hợp nhị tiên”.


Hơn nữa, nếu để ý kỹ chúng ta còn thấy “ông thần Mặt Trời” tượng trưng cho Dương; “nữ thần Mặt Trăng” tượng trưng cho Âm cùng “hòa hợp”, dùng “ánh sáng” của mình soi rọi “lối Nhân gian” – Đường vào với tín ngưỡng thờ Mẫu, đặc biệt là Thiên Hậu nơi đình đền cổ của cộng cư người Hoa. 

 

 

 

 


Trong sân chùa còn có hai con lân đá được chạm từ một khối đá nguyên. Kiến trúc độc đáo này được học giả Vương Hồng Sển khen ngợi:


“...Chùa ngày nay như ta thấy, toàn xây bằng vật liệu bên Tàu đem qua, từ viên gạch, tấm ngói, đến những đồ gốm gắn trên mái nóc đều do thuyền buồm chở sang đây, đến cách thức phong tô cũng giữ y thể thức Tàu, gạch xây liền mí không tô hồ, đếm rỡ từng tấm một, lằn hồ thẳng đường thẳng lối khít rịt và ngay bon như vẽ, thiệt là rất khéo và tưởng chừng thợ kim thời khó làm sắc sảo hơn được nữa. Truy ra chùa nầy trùng tu năm 1860 (Hàm Phong năm thứ 10). Ngày nay đứng sân chùa ngắm lên các cảnh chưng trên nóc bằng đồ gốm nung bên Tàu là biết được những phong tục Trung Hoa cổ thời, thuở vua chúa còn trị vì: đả võ đài, thi đậu vinh quy, công chúa tuyển phò mã, v.v... những vật này đáng được liệt kê vào sổ cổ tích vậy”.

 

 

(Biểu tượng Âm - Dương hòa quyện, quấn lấy nhau tạo nên vạn vật. Trong cuộc song thường nhật, mọi thứ đều như thế, hễ không cân bằng được chúng ta sẽ bệnh, đau khổ do bất đồng, chiến tranh,... Tựu trung, vạn vật đều có trước sau. Sinh biến hay không đều do sự cân bằng này!)

 

 

Tiền điện là hai trang thờ hai bên: Phúc Đức Chánh thần (phải) và Môn Quan Vương Tả (trái). Tại đây có bia đá ghi truyền thuyết về Thiên Hậu Thánh Mẫu và các bức tranh lớn vẽ cảnh bà đang hiển linh trên sóng nước.
Trung điện đặt bộ lư có năm món (ngũ sự) đúc năm Quang Tự thứ 12 (1886).


Đặc biệt, các đình miếu người Hoa nếu chúng ta để ý một chút sẽ thấy nó được thiết kế với hai cánh cửa chính cách nhau độ 3 m. Cửa thứ 2 luôn được đóng kín để ngăn chặn tà khí, tà thần xâm nhập do quan niệm các tạp khí, tà thần, yêu ma thường di chuyển theo một đường thẳng từ ngoài vào, nên chúng ta không được phép bước qua nấc cửa này nhé, mặc dù ngày nay nó được mở để chúng ta rộng đường tham quan [Immediately behind the main door is a false door (a common feature of Chinese temples) designed to prevent evil spirits from entering the sanctuary, since evil spirits always move in straight lines. The false door was kept closed, thereby denying  them access but permitting others to walk around it into the temple.].

 

 

 


Chính điện, được gọi là Thiên hậu Cung, gian giữa thờ Bà Thiên Hậu, hai bên thờ bà Kim Hoa Nương Nương (phía phải) và Long Mẫu Nương Nương (phía trái).


Được biết pho tượng Bà Thiên Hậu tạc từ một khối gỗ nguyên cao 1m, có từ khá lâu, trước khi xây chùa, vốn được thờ ở Biên Hòa và đến năm 1836 mới di chuyển về đây. Hai pho tượng còn lại bằng cốt giấy sơn màu. Các pho tượng đều được khoác áo thêu lộng lẫy. Gian phụ nằm hai bên chính điện thờ Quan Thánh, Địa Tạng, Thần Tài.

 

 

 


Bên các bệ thờ nhang khói nghi ngút tỏa hương mang những ước nguyện được sống ấm no, hạnh phúc bên gia đình; con cái đoực học hành; làm ăn được phát đạt, tấn tới. Ai chưa có vợ thì ước được vợ xinh, người yêu ngoan hiền - trẻ trung - tươi khỏi tưới; ai chưa chồng thì mong có mống bạn trai ngon lành, ăn nên làm ra, không nhậu nhẹt, hút sách, lăng nhăng bừa bãi (Nếu không lầm, nhóm guide nhà em có anh lành tính, ‘làm được vụ này’. Chỉ tiếc là ảnh… đi tu mất rồi!)….
Do đó, cách trưng bày lư hương và đốt nhang còn là cả một vấn đề nghệ thuật đáng để học hỏi.

 

 

 


Chùa Bà được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia ngày 7 tháng 1 năm 1993. Bên cạnh giá trị về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, hiện vật cổ, chùa không chỉ là nơi đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng mà còn là nơi quy tụ và tương trợ lẫn nhau của bà con người Việt gốc Hoa. Hàng ngày, chùa Bà Thiên Hậu vẫn đón tiếp khá đông người dân và du khách đến chiêm bái. Nhưng đông hơn là vào các ngày mùng một và rằm hàng tháng, các ngày lễ Tết trong năm của người Hoa như Tết Nguyên đán, Tết Nguyên tiêu, Tết Đoan ngọ... Đặc biệt, ngày 28 Tết, chùa tiến hành lễ cúng Bà và Lễ khai ấn, cầu mong Bà phò trợ cho "Hộ quốc an dân" và "Hợp cảnh bình an". Riêng ngày vía Bà (23 tháng 3 [âm lịch]) được xem là ngày hội chính của chùa.

 

 

(Giếng Trời hay còn gọi là Thiên tỉnh - Sky well - nơi đã cho tôi ý tưởng mở "cửa sổ" lên trời ở khu đô hội đông đúc, tất bật và đắt đỏ!)

 

 


Vào ngày này, bà con người Hoa, người Việt đến cúng lễ rất đông. Ngay từ đêm hôm trước tại chùa đã cử hành Lễ tắm Bà. Sáng ngày 23, mọi người lại tổ chức Lễ rước Bà: Tượng Bà được đặt vào kiệu do các thanh niên nam nữ ăn mặc đẹp đẽ diễu qua các đường phố quanh chùa. Theo sau kiệu có thuyền rồng, các tấm bảng đỏ ghi tên các vị thần được thờ phụng trong chùa, các đội múa gồm: múa lân, múa sư tử, múa rồng, các đội nhạc dân tộc vừa biểu diễn vừa múa hát, tạo nên một quang cảnh náo nhiệt trong các khu phố đông đảo người Hoa...

 

 

(Từng vòng nhang khói lan tỏa quyện theo dòng dung nham cùng lời khan nguyện của bác quản chùa đưa những mơ ước đời thường mà bao nay con người luôn hướng tới: Cuộc sống phồn vinh với con cháu ấm no, hạnh phúc và an lành.)

 


Chính điện chùa còn 2 đại đồng chung niên hiệu Càn Long năm thứ 60 (1796) và Đạo Quang năm thứ 10 (1830). Trung điện có bộ lư phát lam lớn niên hiệu Quang Tự thứ 12 (1886). Trong tủ kính lớn ở chính điện là tượng Bát Tiên và tướng lịnh của D'Ariès vào năm 1860 cấm các binh sĩ Pháp và Y-Pha-Nho phá phách. Hai bên bộ lư là kiệu sơn son thiếp vàng, bằng gỗ tốt, dành rước Bà vào ngày vía Bà với chiếc thuyền rồng chạm hình nhân, rước theo cùng với kiệu Bà.

 

 

 


Ngoài ra, trong chùa Bà Thiên Hậu hiện còn khoảng 400 hiện vật cổ, trong đó có 7 pho tượng thần, 6 tượng đá, 9 bia đá, 2 chuông nhỏ, 4 lư hương đồng, 1 lư hương đá, 10 bức hoành phi, 23 câu đối và 41 tranh nổi... Tất cả những cổ vật này đều được chế tác rất công phu, tỉ mỉ với những đường nét tinh tế. Hơn thế nữa, chùa còn có các pháp khí như: Đỉnh trầm, lư trầm, lư hương bằng đá sa thạch... do người Hoa thành kính Bà dâng cúng.

 

 

(Dù chúng ta có thành đạt trong sự nghiệp hay không, nhưng rõ ràng thân thể này được sinh ra từ kết tinh của cha mẹ. Và công ơn dưỡng dục không hề phai!) 

 


Chùa Bà Thiên Hậu là một trong những ngôi chùa miếu, có lịch sử lâu đời nhất của người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh. Bên cạnh giá trị về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, hiện vật cổ, nơi đây còn có một giá trị khác, đó không chỉ là nơi đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng mà còn là nơi qui tụ và tương trợ lẫn nhau của bà con người Việt gốc Hoa (Quảng Đông).

 

 

(Cũng 12 con giáp tượng trưng cho mỗi năm cuộc đời, nhưng Con Thỏ Trung Hoa được đổi lại là con "Meo meo" dễ thương ở nhà tui. Yêu lắm, meo meo. Tui tuổi Chuột không thể kết duyên với bé tuổi rắn, nhưng meo meo thì ok!)

 


Sự tích Bà Thiên Hậu, qua người kể đôi khi có ít nhiều dị biệt nhưng chủ yếu vẫn là đề cao một người phụ nữ Hoa có lòng hiếu thảo, đức hạnh, dám xả thân vì mọi người... Sự đề cao này nhằm mục đích giáo dục nhân văn.

 

 

(Ngày nay nhiều người làm ăn phát đạt, thích sở hữu một căn nhà có sân vườn để design cái 'rockery' nho nhỏ này. Chính nó làm dịu cuộc song tất bật mà bạn luôn cảm thấy mệt mỏi sau những giờ làm việc vất vả. Vâng, nó điều hòa 'khí hậu' diễn ra trong con người bạn đấy!)

 


Mặt khác trên bước đường nguy nan, nhiều sóng gió khi sang vùng đất mới để mưu sinh, người Hoa tin tưởng sự hiển linh của bà sẽ giúp họ vượt qua được mọi trở ngại và được an cư lạc nghiệp. Để tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với sự phù trợ của Bà, Chùa Bà Thiên Hậu có vị trí quan trọng đối với người Hoa lẫn người Việt.

 

Vẫn còn nhớ lắm cái cảm giác ngày nào được tung tăng đạp xe lên phố Chợ Lớn mỗi dịp Xuân về để tận hưởng cái không khí tấp nập, náo nhiệt, nhưng lắng đọng khó có nơi nào hiển hiện với tiếng trống Lân chập cheng xen lẫn tiếng vỗ tay của người xem dành tặng những chàng trai tài hoa đô hội.

 

 

 

 

Lịch sử dường như không bao giờ phôi pha vết tích với những cô cậu cắp sách tới trường ê a dăm đôi câu chữ: "Nỉn hạo". Ở một góc phố nào đó, bác nghệ nhân cặm cụi dồn hết tâm can thả hồn vào phóng tác thi ca, hay viết vẽ các bức họa thư pháp. Lắm lúc chỉ một chữ thôi: "Nhẫn"; "Tâm"; "Chính Khí'; "Phúc"; "Lộc"; "thọ";... cũng lột tả hết phong cách sống, trình độ, đẳng cấp cùng tư duy của người cầm bút! Nể lắm thay! 

 

Gửi bình luận

Hãy nhập đầy đủ các thông tin yêu cầu trong ô có dấu (*). Không được phép sử dụng mã HTML.



Địa chỉ: 147/11, đ.Tân Lập 2, tổ 3, k.p.6, – P. Hiệp Phú – Q. 9 – TP.HCM

Điện thoại: +84.918.12.17.12  or  +84.948.12.17.12

Email: kimdaunguyen@dausaigon.com

Thống kê truy cập

3474128
Hôm nay
Trong tuần
Tất cả
3854
17246
3474128

Joomla Templates - by Joomlage.com