Vinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo Slider

Tin tức mới nhất

Video Clip

Uy Tín - Thương Hiệu và Cách Định Vị Thương Hiệu Cá Nhân trên Facebook

Chuyên mục : Kế Hoạch Cuộc Đời
(4 bình chọn)
Lượt xem : 1169


Chiều mưa Chủ Nhật, 16/7/2017,

 

Uy tín là gì? Có bao giờ chúng ta nghĩ bản thân mình cần phải giữ được uy tín, tạo niềm tin cho một ai đó vì lợi ích không chỉ của riêng bạn?

 

I. Khái niệm về uy tín

 

1. Bản chất uy tín.

 

Uy tín tiếng La tinh là "Autoritas - nghĩa là ảnh hưởng, là quyền lực". Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau:

 

 

 

- Theo từ điển tiếng Việt, "uy tín là sự tín nhiệm và mến phục được mọi người công nhận"; là quyền uy, ảnh hưởng tác động và sự thừa nhận. Uy tín là uy quyền được tín nhiệm.

 

 

Ví dụ: Một nhà khoa học có uy tín. Gây uy tín. Làm mất uy tín; uy tín nghề nghiệp; làm ăn có uy tín.

 

 

- Theo Trần Ngọc Khuê thì "uy tín là quyền uy, là phạm vi ảnh hưởng tác động của chủ thể mang quyền lực, có ảnh hưởng tác động và đồng thời là sự tiếp nhận, sự phục tùng tự nguyện của khách để chịu ảnh hưởng của các tác động đó".

 

Theo V.I. Lê-bê-đép thì bản chất uy tín "chính là sức cảm hóa" của người lãnh đạo đối với cấp dưới.

 

- Uy tín thực chất là một cụm từ gồm 2 từ "uy" và "tín" .

 

"Uy" - về bản chất là quyền, quyền của con người về bản chất là hiện tượng xã hội. ở mỗi thời kỳ lịch sử quyền của con người đựơc xã hội đánh giá khác nhau. Thời kỳ cổ Hy Lạp và các bộ tộc cổ xưa, người ta tôn sùng quyền, qua sức khỏe thân xác, thân hình khỏe mạnh, sức mạnh cơ bắp đánh đổ nhiều người. Quyền uy được đánh giá qua sức mạnh cơ bắp của thân thể.

 

- Rồi đến chế độ phong kiến phương đông đã coi quyền uy thuộc về yếu tố trí tuệ "thông minh", nhà "thông thái" ( quan văn). Sức mạnh cơ bắp và các thao tác võ nghệ cao cường "Quan võ" kết hợp với yếu tố trí tuệ.

 

- Khi chế độ giai cấp ra đời quyền uy gắn liền với vị trí xã hội mà con người đảm nhận, quyền gắn liền với quyền lực của những người nắm giữ nhà nước, các nhóm xã hội.

 

Tóm lại, uy gắn liền với quyền, trong đó có quyền tự nhiên và quyền xã hội do xã hội đánh giá và suy tôn, được mọi người thừa nhận.

 

"Tín" - Là sự tín nhiệm của mọi người, niềm tin của mọi người đối với một người hoặc một nhóm người.

 

 

 

 

"Uy tín" - Là quyền của một người hoặc một nhóm người, được mọi người tin tưởng và tự nguyện. tự giác phục tùng tiếp nhận và hành động theo tác động của chủ thể có quyền.

 

2. Những nội dung và biểu hiện của uy tín:

 

2.1 Uy tín thể hiện trước hết ở thái độ và các phản ứng xúc cảm biểu cảm của con người.

 

Thái độ biểu cảm phù hợp với tình huống giao tiếp ứng xử trong các quan hệ xã hội, quan hệ người. Những biểu hiện này mang tính ổn định, phản ánh một nội tâm bao dung, nhân hậu thành thực. Tùy theo đối tượng giao tiếp mà cung kính (với bề trên), bình đẳng (với đồng nghiệp), độ lượng (đối với người dưới)… Sức cảm hóa của thái độ chân thành ở người cán bộ quản lý vố nhân viên dưới quyền.

 

 

 

 

2.2 Uy tín thể hiện ở hệ thống hành vi mẫu mực phù hợp với vị trí, vai trò xã hội mà cá nhân hoặc nhóm xã hội đảm nhận. Làm thỏa mãn được nhu cầu nguyện vọng mong chờ nơi mọi người cấp dưới. Hành vi bao gồm cả hành vi cử chỉ tay chân, ánh mắt nụ cười và hành vi ngôn ngữ chuẩ mực. Làm cho mọi người tin ở người cán bộ quản lý của mình.

 

2.3. Tính hiệu quả của hành vi, hành động đem lại lợi ích cho nhiều người, phù hợp với hoàn cảnh, các quan hệ xã hội, đặc biệt là thực hiện tốt các nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động chung của trường, cơ quan, đơn vị, ví dụ là nhà trường thì hiệu quả được tính bằng chất lượng giáo dục và đào tạo học sinh, có nhiều học sinh giỏi ở các cấp tỉnh, thàn phố, quốc gia và quốc tế. Tính hiệu quả củng cố niềm tin, xây dựng được sự tín nhiệm của nhiều người đối với người quản lý.

 

2.4. Uy tín được biểu hiện qua các tình huống ứng xử đặc biệt - đòi hỏi xử lý thông tin và giải quyết nhanh nhạy đúng đắn, chính xác các tình huống khó xử (có quá nhiều phương án gấp không được do dự; hoặc quyết định một giải pháp thông tin chưa đầy đủ; cũng có thể phải quyết định một giải pháp trước mắt phương hại đến nhóm xã hội nhưng rồi nó tạo ra một sự phát triển quan trọng cho tập thể…). Thường những bước ngoặt lịch sử đó uy tín của người cán bộ quản lý được nâng cao một cách đặc biệt. Nhờ sự biểu hiện này, làm cho cấp dưới phục tùng một cách tự giác những quyết định của người quản lý lãnh đạo.

 

 

 

 

Tóm lại, phạm vi biểu hiện các nội dung của uy tín là rộng, cả trong gia đình, cơ quan; với mọi người, với công việc; với xã hội, với chính bản thân mình … Do vậy uy tín của ngừơi cán bộ quản lý không thể có ngay sau khi đảm nhận vị trí quản lý lãnh đạo, mà thường người cán bộ quản lý phải tự xây dựng uy tín cho mình thường xuyên lâu dài mới có được.

 

3. Những yếu tố hợp thành uy tín.

 

Có nhiều quan điểm khác nhau bàn về các yếu tố hợp thành uy tín. Mỗi quan điểm lại xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn khác nhau; sở dĩ như vậy vì uy tín là một hiện tượng xã hội, nó cũng bị thay đổi theo sự thay đổi của các quan hệ xã hội, nó cũng bị thayđổi theo sự thay đổi của các quan hệ xã hội.

 

3.1. Quan điểm cho rằng, uy tín của cá nhân phụ thuộc vào chính phẩm chất đạo đức và năng lực của cá nhân trong nhóm xã hội. Nghĩa là không cần quyền lực, chức vụ, vị trí xã hội của cá nhân đó. Thực tế đã không ít trường hợp cá nhân không đảm nhận một vị trí xã hội, chức vụ nào, nhưng được nhiều người trong khối phố, xóm làng kính trọng, họ có uy tín thực sự trong gia đình, khối phố; thường những khó khăn của cuộc sống thường nhật họ hay cho lời khuyên bổ ích.

 

 

 

 

3.2. Quan điểm khác lại cho rằng, căn cứ vào những lợi ích vật chất và tinh thần mà cá nhân đó đem lại cho tập thể, cho gia đình cá nhân họ bằng hoạt động tích cực của chính mình - thì người đó có uy tín. Thực tế cũng đã có những trường hợp như vậy, nếu lợi ích mà cá nhân đó đem lại cho tập thể, gia đình mà không phương hại đến lợi ích xã hội, đó cũng chưa đủ để đánh giá trị uy tín, bởi lẽ uy tín không chỉ do lợi ích vật chất hoặc tinh thần do cá nhân đó đem lại, mà cong phải có phẩm chất đạo đức tốt, có sức mạnh cảm hóa mọi người bằng những hành vi mẫu mực của mình.

 

3.3. Quan điểm thứ ba cho rằng, người lãnh đạo thứ ba cho rằng, người lãnh đạo quản lý phải biết làm giàu cho bản thân mình và cho mọi người một cách hợp pháp, phải mẫu mực trong đời sống thường ngày và trong quan hệ thì có uy tín. Quan niệm này hiện nay đúng nhưng chưa đủ.

 

 

 

 

Uy tín người cán bộ quản lý trước hết phải được sự tín nhiệm của Đảng, của nhân dân trao cho một nhiệm vụ, chức vụ nào đó, để thực hiện chức năng quản lý tập thể, cơ quan, trường học, nhóm xã hội. Đây là yếu tố khách quan là đánh giá của xã hội về uy tín. Mặt chủ quan của uy tín là sự tu dưỡng, phấn đấu xây dựng cho mình những phẩm chất chính trị, tư tưởng đạo đức phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của người lãnh đạo mẫu mực (cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư). Những phẩm chất đạo đức xuất phát từ lợi ích của người lao động, có những hành vi ứng xử mẫu mực, có khả năng cảm hóa và thuyết phục mọi người vì mục tiêu, nhiệm vụ hoạt động của nhà trường, cơ quan, đơn vị mình phụ trách.

 

3.4. Những yếu tố cơ bản thành uy tín.

 

Hiện nay trong công tác cán bộ đề bạt cán bộ, thường chú ý đến các yếu tố sau đây:


* Cán bộ quản lý do dân bầu, các đoàn thể bầu phiếu kín: Có số phiếu cao với tỉ lệ 50% số phiếu bầu trở lên.


* Cán bộ quản lý do cấp trên bổ nhiệm.


+ Có trình độ học vấn nhất định (tùy theo vị trí) mà đòi trình độ học vấn khác nhau, ví dụ: Các trường mầm non tiên tiến hiệu trưởng cần trình độ đại học, cán bộ đầu ngành cấp huyện phấn đấu có trình độ đại học đúng chuyên môn…


+ Có phẩm chất tư tưởng chính trị vững vàng, kiên trì và sáng tạo thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước.


+ Có phẩm chất đạo đức trong sáng, mẫu mực trong hành vi xã hội, qua hệ trong gia đình, cơ quan, các bạn đồng nghiệp, đồng chí…


+ Có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng phù hợp với công tác quản lý, ví dụ: Trưởng phòng nông nghiệp huyện phải có trình đại học nông nghiệp chuyên ngành trồng trọt hoặc chăn nuôi…Trưởng phòng giáo dục và đào tạo nên có trình độ Đại học sư phạm, tốt nhất là hiệu trưởng, giáo viên dạy giỏi đã qua công tác quản lý.


+ Có khả năng đoàn kết mọi người, hợp tác với mọi người - nhờ mà huy động được tiềm năng vốn có của mọi người, hoàn thành được các nhiệm vụ của tập thể, cơ quan, nhà trường.


+ Có nhu cầu làm quản lý, có nguyện vọng đem tài năng, trí tuệ phục vụ nhân dân.


+ Đã từng làm công tác quản lý ở cấp dưới ít nhất 3 năm, được tập thể, cơ quan tín nhiệm: đem lại hiệu quả kinh tế, văn hóa, giáo dục tốt.


+ Có vốn sống kinh nghiệm về lĩnh vực quản lý và thâm niên công tác nhất định trong lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hóa, quân sự, giáo dục hoặc pháp lý…


+ Có tài sản, vốn, tư liệu sản xuất (nếu là cơ sở kinh doanh sản xuất).


Ngoài những yếu tố trên khi cất nhắc, bổ nhiệm cán bộ, người ta còn tham khảo thêm các yếu tố.


- Khả năng diễn đạt ngôn ngữ nói, như lời nói rõ rằng, mạch lạc, lưu loát, dễ hiểu, hấp dẫn người nghe, có sức truyền cảm…


- Tư thế, tác phong lãnh đạo, đường hoàng.


- Xử lý thông tin nhanh, ứng xử kịp thời những trường hợp chưa đủ thông tin, mà vẫn có kết quả đúng đắn hợp lý.


- Cẩn thận, chu đáo.

 

Khi bạn có Uy Tín cộng với một chút Trí Tuệ thì đời bạn "sướng" lắm. Bạn không phải lo nghĩ về tài chính bởi chính bản thân bạn là "một kho tiền bạc" vô giá. Mọi người khi đã có niềm tin vào bạn, họ sẽ cho bạn vay mượn tiền để mở rộng công việc làm ăn kinh doanh mà không cần một "mảnh giấy" tín nhiệm nào. Nhưng bạn đừng lạm dụng nhé! Hãy cố gắng xoay đồng vốn để trả cho họ đúng hẹn vì số tiền đó họ cũng cực khổ và vất vả mới có được. Như vậy, bạn mới giữ trọn Uy tín. "Xây dựng" thì muôn vàn khó khăn, lâu lắc, nhưng "đập đổ", xóa bỏ thì lại cực kỳ chóng vánh, chỉ trong tích tắc mà thôi. Nên phàm mọi chuyện bạn phải cân nhắc, đừng vì chút túng bẩn tạm thời, hay lòng tham trỗi dậy mà phá hỏng "kỳ công" Uy danh - Tín nhiệm mà bản thân mình xây đắp, tạo dựng bấy lâu. Mọi chuyện đều có trước - sau cả!

 

Tóm lại, có rất nhiều yếu tố hợp thành uy tín, mỗi giai đoạn lịch sử phát triển xã hội khác nhau, có thể yếu tố này được đề cao, yếu tố khác làm nền tảng, nhưng có những yếu tố như phẩm chất đạo đức, tài năng thì chế độ xã hội nào cũng được coi trọng.

 

 


 


 
Lại bàn về thương hiệu. Thương hiệu là gì nhỉ? Chúng ta thử tham khảo việc làm kinh tế của một doanh nhân dưới đây để biết thêm về Thương hiệu nhé!

  

 

Ông Jonathan Hạnh Nguyễn Và 10 Bật Mí Về Thương Hiệu



Từng là thanh tra tài chính của hãng Boeing Mỹ, người mở đường bay chính thức giữa Việt Nam và Philippines, được coi là “ông trùm về nhượng quyền" những thương hiệu tên tuổi của thế giới…, ông Jonathan Hạnh Nguyễn vừa chia sẻ 70% bí quyết thành công của mình.

 

 


Ông Jonathan Hạnh Nguyễn, Chủ tịch tập đoàn Liên Thái Bình Dương (IPPG)

 

“Mừng sinh nhật 68 tuổi, nhưng tôi vẫn còn chạy đua với các con của mình trong kinh doanh. Tôi muốn rút ruột chia sẻ với các bạn 10 điều căn cốt trong nhượng quyền thương hiệu”, ông nói.

 

Mở đầu cuộc trò chuyện với doanh nhân trong buổi tọa đàm "Nhượng quyền thương hiệu trong bối cảnh hội nhập" do Hiệp hội doanh nghiệp TP HCM tổ chức ngày 20/5, ông Jonathan Hạnh Nguyễn đã chia sẻ rất thực lòng về cú sốc mà mình vừa trải qua.

 

“Về nước năm 1984, tôi đã định hình việc gì mình làm trong 10 năm, 20 năm, 30 năm, và tôi cố gắng sống thêm 30 năm nữa. Thời thanh niên, có lẽ 'bắn phá' dữ quá nên vừa rồi tôi phát hiện mình bị ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn 3, nhưng có điều thật kỳ lạ là tới ngưỡng ba thì ngưng lại, chờ người cứu! Một bác sĩ Nhật đã cứu tôi bằng phương pháp bắn ion. Trong cái rủi có cái may. Tôi đã trải qua 6 tháng đầy thử thách để nghiệm ra rằng ung thư không giết con người, mà tâm trí lo sợ giết con người", ông Jonathan Hạnh Nguyễn nhớ lại.

 

"Khoa học đã vượt qua tầm mơ ước của mình, nhưng tôi nghĩ cuối đời rồi, tập trung làm gì vì đất nước thôi… Chia sẻ kinh nghiệm với các bạn cũng là một cách, và tôi sẽ chia sẻ hết… 70% kinh nghiệm xương máu của mình mà tôi đã tổng kết lại. Thật sự nhượng quyền là con dao hai lưỡi, trái ngọt đâu chưa thấy nhưng trái đắng nhiều lắm, nhiều lúc đành ngậm bồ hòn làm ngọt vậy thôi”, ông nói thêm.

 

Trước hết, phải biết ta muốn gì?

 

Ông Jonathan Hạnh Nguyễn cho biết: "Hiện nay trong lĩnh vực nhượng quyền của tôi có ăn uống, dịch vụ, thời trang… nhưng mảng fastfood của tôi chiếm 29%".

 

Theo ông, trước hết chúng ta phải biết về thức ăn nhanh trong top 10 có những ông lớn nào đứng đầu?

 

Đã xuất hiện ở Việt Nam chưa? Thời trang cũng vậy, nhưng có thể kéo dài danh sách top 20, thương hiệu nào chưa có thì mình nhào vô. Điều quan trọng là phải nghiên cứu thị trường, xem trong top 10-20 đó thương hiệu nào thiết kế phù hợp với người Việt mình? Như Chloé chẳng hạn, nằm ở vị trí quá đẹp của tòa nhà Vincom nhưng …. thua, vì thiết kế không hợp với người Việt mình.

 

Thứ hai, đừng “với” cao quá.

 

Nếu các bạn tập trung vào lĩnh vực thời trang, có hồ sơ sáng sủa, có vốn lớn rồi thì hãy bắt tay thẳng với đại bản doanh của họ, còn những người mới bước vô lĩnh vực thời trang, muốn gặp LouisVuitton, Chanel, bạn đừng vội qua thẳng Pháp, Mỹ, nên gặp đại diện của họ bên vùng trước, rồi theo đoàn tàu của họ, điều kiện họ cho rất dễ dàng, cứ 50-50. 92 thương hiệu của tôi nội tiền chuyển nhượng đã “nuốt” hết mấy trăm triệu đô la, nhưng chưa hẳn đã thành công hết, phải lấy ông này nuôi ông kia, chứ trông chờ vào một thương hiệu thì đứt vốn. Trong tập đoàn cần có nhiều lĩnh vực kinh doanh để hỗ trợ nhau.

 

Thứ ba là đàm phán hợp đồng.

 

Điều này quan trọng lắm. Đọc hợp đồng của những nhà chuyên gia tư vấn thế giới thấy… nhức đầu lắm. Đọc xong chưa chắc đã hiểu hết, nếu tay ngang đi vô đàm phán liền dễ bị ăn hiếp lắm. Hợp đồng đầu tiên tôi thất bại là Burger King, khi đi vô hợp đồng họ đòi mình mở ngay 60 cửa hàng đã, rồi mình mới ăn được tiền chuyển nhượng.

 

"Thấy ông lớn ở Philippines nhượng quyền đã mở 600 cửa hàng, ngồi thu hàng trăm triệu USD tôi mơ lắm, quyết mang về Việt Nam. Nhưng tôi chưa nghiên cứu kỹ thị trường thức ăn sáng của Việt Nam, đâu biết buổi sáng có đủ hết, từ bánh mì, bún, phở,… cả trăm thứ. Chưa nói Việt Nam quen với bánh mì giòn rồi, còn Burger King lại là bánh mì mềm. Chưa kể họ không cho mình độc quyền. Phải đàm phán làm sao chiếm được thế độc quyền. Cẩn thận khâu cuối cùng là bồi thường khi rủi ro xảy ra, tôi cá là 70% chuyện này sẽ xảy ra", ông Jonathan Hạnh Nguyễn nói.

 

Thứ 4, khi lấy được thương hiệu, khó nhất là giữ được thương hiệu.

 

 

Sau 20 năm, chúng tôi đã vững vàng, có thể ép họ theo mình, vì họ cần mình. Việt Nam bắt nhập thuế 30%, 10% thuế giá trị gia tăng, như vậy là cao hơn các nước 40% rồi. Tôi không can thiệp được. Cho nên đã từng phát sinh Milano “đao” giá. Họ sẽ đánh giá mình, xem hóa đơn có đúng với giá của họ không. Sau khi thấy không đúng họ sẽ từ từ gây khó khăn, không đưa hàng tiếp cho mình. Mình phải thật kiên định để giữ giá mới có được tồn tại đến hôm nay.

 

Trong chi phí nhượng quyền, họ kiểm soát cả tiền quảng cáo nữa, đàm phán làm sao để có lợi cho mình là tiền đưa vô quảng bá thay vì 10 tờ báo sẽ tăng lên 20 tờ báo. Khi họ hỏi kế hoạch 5 năm, chính là để đánh giá mình có hiểu thị trường hay không, nếu hiệu quả kinh doanh thấp họ sẽ không đưa mình làm đâu.

 

Thường thường họ không cho chuyển nhượng, bán luôn thương hiệu này. Họ cần mình để xây dựng thương hiệu, cho mình thời hạn nghìn từ 3 đến 5 năm thôi, còn quả ngọt họ ăn. Chủ thương hiệu chỉ cần ăn hoa hồng, còn thua lỗ là chuyện của mình. Trong làm ăn phải sòng phẳng, phải đàm phán sao đó cho họ chấp nhận điều kiện mình làm được sẽ có quyền bán cho người thứ ba.

 

Thứ 5, mặt bằng, mặt bằng và mặt bằng.

 

 

Đúng như vậy, nhưng ngay Đồng Khởi cũng chết nếu bạn thuê quá 30 nghìn USD, trong khu dân sinh càng chết nữa. Đừng để họ ép mình vào mặt bằng lớn, chỉ từ 25-30 nghìn USD đầu tư mới sống, nếu 40-50 nghìn USD là chết! Quan trọng trước khi nhượng quyền, phải đàm phán bao nhiêu mặt bằng chúng ta sẽ lấy lại được, nếu có mặt bằng ở Đồng Khởi thì nhào vô.

 

Nếu làm về thức ăn nhanh, tôi phải khen ông Trung Nguyên, không biết ông có ngậm trái đắng không? Vì trả 30% cho mặt bằng thì chết đắng rồi. 4 thương hiệu đầu tiên tôi bị đầy áp lực về mặt bằng, có 80 cửa hàng, mỗi năm mở thêm 1 cửa hàng chi phí 50 nghìn USD. Nhưng khi đã lớn mạnh rồi mình phải sòng phẳng, thay đổi điều kiện, không trả tiền thương quyền. Vì khi mình mở thêm cửa hàng cổ phiếu họ sẽ lên. Họ ăn ở cổ phiếu lên là chính. Mình phải nắm được điểm lợi đó để thương lượng lại.

 

Thứ 6 là thiết kế cửa hàng.

 

Nói có vẻ đơn giản, không phải đâu. Họ bắt nhà bếp gấp đôi cửa hàng là chết. Nhà bếp chỉ bằng 1/3 cửa hàng mới thắng được. Vì họ muốn hoành tráng. Về Việt Nam phải thay đổi. Trước giờ họ ép mình phải mở mỗi cửa hàng 300-500 m2, nhưng làm thế là tự mình giết mình, vì ở Việt Nam chưa có nhu cầu đó. Đầu tư cho một cửa hàng trung bình 200 nghìn USD thôi.

 

Thứ 7, trong hợp đồng họ luôn yêu cầu trang bị máy móc phải nhập nước ngoài, rồi nguyên liệu cũng phải nhập hết.

 

Đồ inox Việt Nam làm được rồi họ cũng không cho, phải mua của chính hãng từ A-Z. Việt Nam đã vô WTO rồi, không có lý do gì chúng ta chịu họ ép nhập thiết bị giá 200 nghìn khi mình mua 50 nghìn ở Việt Nam. Đàm phán được là chúng ta thắng lớn, vì cắt đi 50% nguyên liệu nhập. Tôi có trung tâm tại Cát Lái cung cấp nguyên liệu đúng tiêu chuẩn, dưới 50% nhập khẩu mình mới sống được, còn trên 50% là mình thua lỗ. Thương hiệu lớn họ chịu nghe, chịu phân tích lắm. Nên phải dùng cái óc để cân bằng lại, nắm cán dao cổ phiếu lên của họ để đàm phán lại.

 

Thứ 8 là nhân sự về thức ăn nhanh và thời trang.

 

 

Tôi đã từng bị nạn rồi. Một chị đưa hồ sơ thấy đẹp lắm, ba tôi đã làm thức ăn nhanh, tôi học ở Anh về, đọc thấy đã quá. Giao cho chị liền mở 20 cửa hàng luôn, vì mình bận rộn quá. Khai trương … chết yểu hết 8 cái rồi, vì ở trong tít hẻm hóc nào tận Tân Bình. Mỗi lần đóng, mở cửa hàng thiệt hại ghê gớm lắm. Sau này cũng may, 8 đứa con tôi 6 đứa về Việt Nam phụ rồi. Phải kiếm nhân sự có nghề và tin tưởng được.

 

Thứ 9, giá vốn hàng hóa không đùa được, quyết định chết hay sống...

 

Chỉ chiếm 25% thì sống, trên 50% là tê liệt, vì còn thuế, nguyên liệu, điện nước nữa… Họ sợ chất lượng mình không đảm bảo. Chính vì vậy mình phải kiểm soát giá vốn hàng hóa xuống từ từ. Nếu giá thành thuê mặt bằng từ 15-20%, giá vốn hàng hóa 25-35% cộng lại dưới 50 % là sống khỏe.

 

Cuối cùng là tiếp thị.

 

Làm sao cho họ biết đến mình? Ngoài khuyến mãi, quảng cáo, còn phải đổi menu nữa. Vì Việt Nam những gì mới, theo phong trào họ thích lắm. Nhập gia tùy tục, thương hiệu Popeyes Chicken tôi phải để thêm vào Gà rán Popeyes, tự động doanh số lên 25% liền. Phải tranh đấu, cho thêm cả bánh tráng trộn, chơi luôn bánh mì kẹp vào menu. Nuôi Popeyes Chicken từ khi thua lỗ, đến giờ ba ông khỏe mạnh, một ông chạy ngon, một ông khập khiễng… Kế hoạch tất cả phải ngon lành hết.

 

"Điều mong muốn của tôi đã thành hiện thực. Cuối 2017, chính vì chịu đấm ăn xôi mà ngày nay tôi có được độc quyền khai thác dịch vụ ở sân bay quốc tế. Du lịch ra vô sân bay 120 tỷ USD, mình chỉ cần lấy 0,01% thôi. Nhưng muốn lấy độc quyền 92 thương hiệu tôi đã phải ngậm đắng nuốt cay mấy năm nay rồi. M&A thành công nhất là với Autogrill, một tập đoàn đã có 30 năm kinh nghiệm làm dịch vụ sân bay", ông Jonathan Hạnh Nguyễn cho biết.

 

"Lui một bước, nhảy 3 bước, tôi thấy nếu chỉ có mặt hàng của mình thì không phát triển được. Tại sao mình không hiến thân cho những thương hiệu lớn đi. Mình là cô Tấm, hiến thân cho hoàng tử cũng có giá của nó chứ. Nên nhường họ, đừng có tranh giành. Nhờ đó doanh số lên gấp 10 lần, thay vì 5 triệu USD lên 50 triệu USD, sân bay sáng sủa hẳn lên, các thương hiệu đầu tư bài bản, đó là niền hãnh diện của tôi", ông nói.

 

Ông Jonathan Hạnh Nguyễn cho biết thêm: "Tôi cũng tự hào là mình nộp thuế đầy đủ, chia sẻ xã hội. Không có chuyện hai sổ, không có chuyện phi pháp. Vừa rồi tôi đã ký được hợp đồng nhượng quyền với “ ông lớn” chảnh nhất là Dolce& Gabbana, với điều kiện hợp đồng tốt nhất hiện nay, thể hiện sự trang trọng. Chanel là mặt hàng nhiều nước thích, bắt buộc giá ở Việt Nam cao hơn 40%, ai cũng than phiền là đúng. Nhưng từ tháng 1/2017 việc này không xảy ra nữa. Họ đã đồng ý cho Việt Nam bằng giá Singapore, chỉ hơn Paris từ 2-3%, một thắng lợi chưa từng có ở Việt Nam. Đó chính là thế mạnh của thương quyền. Kết lại, 90% làm nhượng quyền là nhức đầu, tới ngày mình thành công, Chanel giờ đã đạt 28 triệu USD, tăng trưởng 280%".                                  

 

(Theo chị KIM YẾN)

 

Thương hiệu

 

là khái niệm trong người tiêu dùng về sản phẩm với dấu hiệu của nhà sản xuất gắn lên mặt, lên bao bì hàng hoá nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ sản phẩm. Thương hiệu thường gắn liền với quyền sở hữu của nhà sản xuất và thường được uỷ quyền cho người đại diện thương mại chính thức.

 

Thương hiệu - theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức.

 

Thương hiệu được hiểu là một dạng tài sản phi vật chất. Lưu ý phân biệt thương hiệu với nhãn hiệu. Một nhà sản xuất thường được đặc trưng bởi một thương hiệu, nhưng ông ta có thể có nhiều nhãn hiệu hàng hóa khác nhau. Ví dụ, Toyota là một thương hiệu, nhưng đi kèm theo có rất nhiều nhãn hiệu hàng hóa: Innova, Camry...

 

Thương hiệu (brand, brand name, trademark), hiểu một cách đơn giản, là một cái tên gắn với một sản phẩm hoặc một nhà sản xuất. Thương hiệu ngày nay đang ngày càng trở nên một thành tố quan trọng trong văn hóa và trong nền kinh kế. Hàng hiệu hoặc đồ hiệu được coi là những "vật phẩm văn hóa và triết lý cá nhân".

 

Nói cách khác, thương hiệu là một tập hợp những cảm nhận của khách hàng về một công ty, một sản phẩm hay dịch vu với đầy đủ các khía cạnh: mô tả nhận diện (brand identities), giá trị (brand values), thuộc tính (brand attributes), cá tính (brand personality). thương hiệu ràng buộc với người tiêu dùng qua mối quan hệ thương hiệu-người tiêu dùng (brand-consumers relationship).

 

Nội hàm khái niệm

 

Có hai khía cạnh gắn với thương hiệu: tâm lý và trải nghiệm. Trải nghiệm về một thương hiệu là tổng hợp tất cả những gì người tiêu dùng cảm nhận được khi tiếp xúc với sản phẩm mang thương hiệu đó. Khía cạnh tâm lý, hoặc hình ảnh của một thương hiệu, là một kiến tạo biểu tượng được tạo ra trong tâm trí người tiêu dùng và gợi lên tất cả những thông tin và trông đợi gắn với sản phẩm hoặc dịch vụ có thương hiệu đó.

 

Xây dựng thương hiệu là đề ra và gây dựng được những trông đợi gắn với trải nghiệm thương hiệu, tạo ra được ấn tượng rằng thương hiệu đó gắn với một sản phẩm hoặc dịch vụ với những chất lượng hoặc đặc tính nhất định khiến sản phẩm/dịch vụ đó trở nên độc đáo hoặc duy nhất. Vì thế thương hiệu là một trong những thành tố có giá trị nhất trong chủ đề quảng cáo, vì nó cho thấy nhà sản xuất có thể đem lại gì cho thị trường. Nghệ thuật tạo ra và duy trì thương hiệu được gọi chung là quản lý thương hiệu. Định hướng toàn bộ các khâu của quá trình sản xuất nhắm vào phục vụ thương hiệu chính là tiếp cận thị trường theo lối lồng ghép tổng thể.

 

Nếu biết quản lý thương hiệu một cách thận trọng, cùng với một chiến dịch quảng cáo thông minh, có thể thuyết phục được khách hàng trả giá cao hơn rất nhiều giá thành sản phẩm. Đó là khái niệm tạo ra giá trị. Đó là cách thức vận dụng hình ảnh của sản phẩm làm sao để người tiêu dùng thấy được rằng sản thẩm đó xứng đáng với giá trị mà nhà quảng cáo muốn người tiêu dùng thừa nhận, chứ không phải là giá trị hợp lý của giá thành sản phẩm (nguyên liệu, công, chuyên chở, v.v.).

 

Nhưng giá trị của thương hiệu không chỉ là con số chênh lệch giữa giá bán và giá thành. Nó là tổng hợp những phẩm chất của sản phẩm đối với người tiêu dùng. Có rất nhiều giá trị phi vật thể trong làm ăn chứ không chỉ là những gì thể hiện được trong bảng hạch toán: kỹ năng của một người công nhân lành nghề, từng loại, từng kiểu, từng cách làm khác nhau, v.v. Đó là những giá trị khó có thể hạch toán được, và những người mang những tri thức và kỹ năng như thế cần được công ty trân trọng và giữ lại, vì sự khác biệt mà họ mang lại là không thể so sánh được. Doanh nghiệp nào không nhìn nhận ra và không biết duy trì những tải sản quý như vậy đều có thể chịu sự thất bại nặng nề.

 

Một thương hiệu được thừa nhận rộng rãi trên thị trường tức là đã đạt được sự khẳng định thương hiệu. Đến một lúc nào đó một thương hiệu được thừa nhận thu hút được đông đảo người tiêu dùng trên thị trường, nó có thể bắt đầu nhượng quyền thương hiệu.

 

Người tiêu dùng thường tìm kiếm trong những sản phẩm hoặc dịch vụ có thương hiệu những khía cạnh giá trị gia tăng, vì chúng cho thấy một phẩm chất hoặc tính cách hấp dẫn nào đó. Từ góc độ của nhà sở hữu thương hiệu, các sản phẩm và dịch vụ có thương hiệu bao giờ cũng bán được giá cao hơn. Khi có hai sản phẩm tương tự như nhau, nhưng có một sản phẩm có thương hiệu còn một sản phẩm không có thương hiệu, người tiêu dùng thường chọn sản phẩm có thương hiệu và đắt tiền hơn dựa trên chất lượng gắn với uy tín của thương hiệu đó.

 

Về mặt nhận diện, thương hiệu là cái tên hay dấu hiệu giúp nhận biết một sản phẩm. Một thương hiệu thành công đánh dấu một sản phẩm là có lợi thế cạnh tranh bền vững. Microsoft, IBM, BMW, Coca Cola , Shell ...là những ví dụ điển hình về thương hiệu doanh nghiệp, Louis Vuiton, GUCCI, Dove, Tide... là những ví dụ điển hình về thương hiệu sản phẩm.

 

thương hiệu là một thành phần phi vật thể nhưng lại là một thành phần thiết yếu của một doanh nghiệp. Một khi mà các sản phẩm đã đạt đến mức độ hầu như không thể phân biệt được bằng tính chất, đặc điểm và lợi ích công dụng thì thương hiệu là yếu tố duy nhất tạo ra sự khác biệt giữa các sản phẩm. thương hiệu nói lên sự tin tưởng và sự an toàn.

 

Bên Mỹ, người ta thống kê bình quân trong một ngày người tiêu dùng tiếp xúc với khoảng 6 ngàn hoạt động quảng cáo, và mỗi năm có tới hơn 25 ngàn sản phẩm mới ra đời. Sống trong một thế giới như vậy, thương hiệu là yếu tố giúp người tiêu dùng không bị lẫn lộn, nó giúp người tiêu dùng vượt qua mọi sự lựa chọn vốn ngày càng đa dạng khi mua một sản phẩm hay dịch vụ.

 

Nhiều người đã từng nghe về những cuộc thử nghiệm nếm Pepsi-coca và Coca-cola mà kết quả cho thấy khi nếm sản phẩm "mù" rất ít người nhận ra sự khác biệt giữa hai loại coca, nhưng khi được hỏi với sản phẩm có nhãn thì đến 65% người tiêu dùng cho là mình thích Coca-cola hơn. Đây là một trong những yếu tố chỉ định những giá trị mà chúng tôi xếp vào loại giá trị phi vật thể.

 

Ta có thể hình dung sự khác biệt giữa thương hiệu và sản phẩm như sau:

 

"Sản phẩm là thứ được làm ra từ trong nhà máy; Thương hiệu là thứ mà khách hàng mua

Sản phẩm là thứ có thể bị bắt chước một cách dễ dàng; Thương hiệu là độc nhất vô nhị

Một sản phẩm có thể bị lỗi thời nhanh chóng; Thương hiệu là trường tồn"

 

(Stephen King)

 

 


 

 

Yếu tố cấu thành:

 

1.Phần không đọc được


Bao gồm những yếu tố không đọc được mà chỉ có thể cảm nhận được bằng thị giác như hình vẽ, biểu tượng (hình bông sen của Vietnam Airlines), màu sắc (màu xanh của Nokia, đỏ của Coca-Cola, hay kiểu dáng thiết kế, bao bì (kiểu chai bia Henniken) và các yếu tố nhận biết (bằng mắt) khác.

 

2.Bản sắc của thương hiệu

 

Bản sắc hoặc căn cước của một sản phẩm hoặc một thương hiệu là những giá trị mà nhà sản xuất/sở hữu thương hiệu muốn người tiêu dùng tin vào và nhận biết sản phẩm. Nhà sở hữu phải tìm cách gắn kết hình ảnh thương hiệu và căn cước của thương hiệu càng gần với nhau càng tốt. Những thương hiệu có hiệu quả cao thương biết cách kết nối giữa cá tính của thương hiệu trong quan niệm của đối tượng phục vụ và bản thân chính sản phẩm hoặc dịch vụ nó cung cấp. Hơn nữa, thương hiệu cần phải nhằm vào một số nhóm dân cư nhất định. Đặc biệt, những thương hiệu có sức sống lâu dài thường là những thương hiệu dễ nhớ, có thể duy trì qua nhiều xu hướng đổi thay, và mang lại một ấn tượng tích cực. Bản sắc của thương hiệu là hết sức quan trọng giúp người tiêu dùng nhận ra sản phẩm; nó chính là biểu tượng của sự khác biệt của một thương hiệu so với những sản phẩm cạch tranh khác.

 

Bản sắc của thương hiệu xuất phát điểm vốn là những gì người sở hữu thương hiệu muốn người tiêu dùng tiềm năng tin vào. Thế nhưng qua thời gian, có những bản sắc tự nó phát triển, tích hợp thêm quan niệm của người tiêu dùng, không nhất thiết phải từ quảng cáo. Vì vậy luôn cần tìm hiểu về quan niệm của người tiêu dùng đối với một thương hiệu nào đó.

 

Bản sắc thương hiệu cần phải tập trung vào những phẩm chất nguyên gốc - những đặc tính thật có giá trị và những hứa hẹn nó mang lại - cũng như cần phải được duy trì bằng những đặc trưng trong quá trình tổ chức và sản xuất.

 

3.Sự trung thành của khách hàng đối với thương hiệu

 

Sự trung thành của khách hàng đối với thương hiệu (Brand loyalty) chính là sự quay trở lại của khách hàng với công ty.Những khách hàng trung thành là những vị khách sẽ luôn bên công ty kể cả trong lúc khó khăn.Theo số liệu thống kê thì 80% lợi nhuận của các công ty đến từ 20% khách hàng trung thành của công ty.Do vậy việc chăm sóc những khách hàng trung thành qua các chiến lược marketing trực tiếp. Dịch vụ chăm sóc khách hàng (CRM) luôn được các công ty quan tâm, đặc biệt các công ty trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ.

 

Theo định nghĩa của chuyên gia, Sự trung thành thương hiệu (brand loyalty) là một trong 3 chỉ số đo kết quả thương hiệu. Các chỉ số khác là Mức dùng thử (Trial%), và Mức dùng Thường xuyên (Regular%). Trong thực tế quản trị thương hiệu thì chỉ số Trung thành (brand loyalty%) là thước đo cao nhất nói lên kết quả của một quá trình xây dựng thương hiệu và là cái đích để so sánh sức mạnh thương hiệu. Brand Loyalty % cũng là chỉ số tỷ lệ thuận với Giá trị Thương hiệu là cơ sở để định giá so sánh giá trị thương hiệu.

 

4.Kiến trúc thương hiệu

 

Kiến trúc Thương hiệu (Brand Architecture) là một trong những khái niệm quan trọng trong phương pháp luận quản trị chiến lược thương hiệu (brand marketing strategy). Về cơ bản có thể hình dung Kiến trúc Thương hiệu như là một cơ cấu phả hệ hoặc sơ đồ tổ chức mà các vị trí trong sơ đồ là các thương hiệu thay cho các cá nhân. Mục đích chủ yếu của kiến trúc thương hiệu là hình thành một cơ cấu mang tầm chiến lược đối với việc phát triển sản phẩm và thương hiệu trong các doanh nghiệp lớn mà trong đó có quá nhiều chủng loại sản phẩm và nhắm đến nhiều đối tượng khách hàng khác nhau. Tư duy cần thiết đối với kiến trúc thương hiệu là xem nó như một cái cây đang sinh trưởng trong không gian cụ thể xung quanh, chứ không phải là một kiến trúc cơ học khô cứng và không nảy nở. Vì vậy yêu cầu tối thiểu đối với một kiến trúc thương hiệu là xem xét lại cấu trúc ít nhất hàng năm trong mỗi chu kỳ hoạch định marketing cho từng thương hiệu.

 

5.Quản trị Thương hiệu

 

Quản trị Thương hiệu (brand management) được Neil McElroy (tốt nghiệp Đại học Havard) khởi lập từ năm 1931 tại Procter & Gamble. Trong một bảng Memo 3 trang đánh máy hiện vẫn còn lưu giữ, McElroy đã thuyết phục ban lãnh đạo P&G vấn đề quan trọng của việc tập trung quản lý từng đối tượng thương hiệu, hơn là chú ý đến quản trị tổng quan công ty như cách quản trị truyền thống. Neil McElroy cũng đề xuất việc mỗi thương hiệu sản phẩm phải có một nhân sự chuyên trách, tập trung mọi nỗ lực để xây dựng chiến lược và quản trị hiệu quả theo từng brand. Ngoài ra McElroy còn lưu ý việc cạnh tranh giữa các thương hiệu cả đối với bên ngoài và với bên trong mà cụ thể là quan hệ thương hiệu giữa Camay và Ivory là hai nhãn hiệu của cùng một công ty. Neil McElroy là người kế nhiệm Deupree trở thành CEO của Procter & Gamble vào năm 1948, và trở thành Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ vào năm 1957 dưới thời Tổng thống Eisenhower. Neil McElroy cũng là chiến lược gia của thời chiến tranh lạnh cạnh tranh ngành vũ trụ với Liên Xô và nhà hoạch định chiến lược thương hiệu NASA.

 

6.Bảo hộ và tranh tụng về thương hiệu

 

Để một thương hiệu được bảo hộ, một chủ quản có tư cách pháp nhân (có thể là một công ty, người sáng chế, tập đoàn, hiệp hội ngành nghề) phải đăng ký thương hiệu tại cơ quan nhà nước quản lý bản quyền thương hiệu. Một nhãn hiệu (brand) cần đăng ký để được bảo hộ thương hiệu (Registered Trademark: "Thương hiệu đã đăng ký" hay là "nhãn hiệu cầu chứng"). Thường là theo nguyên tắc, ai đăng ký trước và nếu không bị tranh tụng, sẽ sở hữu hợp pháp quyền sử dụng thương hiệu đó.

 

Tại mỗi quốc gia, có cơ quan cấp quốc gia quản lý việc cấp quyền sử dụng thương hiệu (qua Giấy chứng nhận đăng ký thương hiệu) và giám sát các việc tranh kiện thương hiệu. Như tại Hoa Kỳ là Cục thương hiệu và bản quyền sáng chế Hoa Kỳ (The United States Patent and Trademark Office (USPTO) hay còn gọi là Văn phòng bản quyền sáng chế và nhãn hiệu thương mại Hoa Kỳ)

 

Một ví dụ của việc vi phạm bản quyền thương hiệu của Việt Nam: Vì nhiều công ty và hiệp hội ngành nghề tại Việt Nam không chú ý và chậm trễ trong việc đăng ký thương hiệu, các cơ quan quản lý cũng không có hướng dẫn pháp lý kịp thời nên nhiều thương hiệu của Việt Nam đã bị đăng ký và được sử dụng hợp pháp (đối với quốc gia sở tại) bởi những công ty nước ngoài. Điển hình như: Nước mắm Phan Thiết, nước mắm Phú Quốc, cà phê Trung Nguyên, thuốc lá VINATABA, Petro Vietnam, bánh phồng tôm Sa Giang, kẹo dừa Bến Tre, võng xếp Duy Lợi, cà phê Buôn Ma Thuật... Ví dụ cụ thể như Nước mắm Phan Thiết, từ năm 2007, tên gọi này đã được luật hoá khi Uỷ ban Nhân dân tỉnh Bình Thuận (chưa phải là một Cơ quan nhà nước chính thức cấp quốc gia quản lý thương hiệu) đăng ký bảo hộ vô thời hạn trên lãnh thổ Việt Nam để chứng nhận xuất xứ cho các loại nước mắm được chế biến theo đúng tiêu chuẩn chất lượng và An toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) trong địa bàn tỉnh[4][5], tuy nhiên, ngoài Việt Nam, trước đó 8 năm, từ ngày 1 tháng 6 năm 1999 một công ty tên là Kim Seng, trụ sở tại California (Mỹ) đã đăng ký thương hiệu "nước mắm nhỉ thượng hạng Phan Thiết" tại Văn phòng bản quyền sáng chế và nhãn hiệu thương mại Hoa Kỳ và có hiệu lực hợp pháp trên toàn nước Mỹ. Nhà nước Việt Nam cũng rất chậm trễ trong việc luật hóa bản quyền, đến năm 2005 mới có Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam chính thức.  

 

(Theo wikipedia)

 

Thương hiệu được hình thành như thế nào?

 

Trước khi nói chuyện xây dựng thương hiệu ta cần tìm hiểu xem thương hiệu được hình thành như thế nào. Như chúng ta đã định nghĩa ở trên, thương hiệu là cảm nhận của khách hàng về một sản phẩm, một công ty, một dịch vụ. Cảm nhận ấy hình thành qua thời gian, điều nầy có nghĩa là một sản phẩm/dịch vụ/giải pháp mới và khách hàng chưa biết, chưa có khái niệm gì thì chưa có thể gọi là một thương hiệu.

 

Cảm Nhận Thương Hiệu

 

Khách hàng hình thành cảm nhận về một sản phẩm, một công ty (và từ đó hình thành thương hiệu) qua những tương tác dưới đây:

 

- Trãi nghiệm sản phẩm dịch vụ:

 

Trãi nghiệm của khách hàng là những gì khách hàng cảm nhận được sau khi mua một sản phẩm về sử dụng, hoặc sau khi sử dụng một dịch vụ. Với thị trường B2B, trãi nghiệm của khách hàng hình thành qua quá trình làm ăn với một công ty đối tác.

 

- Tương tác, tiếp xúc với nhân viên.

 

 

Cảm nhận của khách hàng về một thương hiệu cũng hình thành từ những gì còn đọng lại qua những lần tiếp xúc với nhân viên, người đại diện cho thương hiệu để tương tác với khách hàng. Điều nầy lý giải khái niệm đại sứ thương hiệu.

 

- Các hoạt động marketing và truyền thông.

 

Hoạt động marketing là những gì thương hiệu chủ động thực hiện để tác động, hay tạo ra cảm nhận của khách hàng, những cảm nhận tích cực về thương hiệu.

 

Thương hiệu mạnh là gì?

 

Nói thương hiệu là những cảm nhận, vậy làm sao nhận ra thương hiệu? Một thương hiệu mạnh thường bao gồm:

 

- Những tính năng, lợi ích của sản phẩm.

 

Giá trị của một thương hiệu xuất phát từ sự vượt trội về chất lượng, của lợi ích mà sản phẩm mang lại. Hãy lấy một chiếc áo hàng hiệu làm ví dụ: Trước hết sản phẩm nầy phải được thiết kế đẹp, chất lượng nguyên phụ liệu cũng như là kỹ thuật may phải làm hài lòng người mặc, và cả người không mặc cũng nhận thấy điều nầy.

 

- Những giá trị vô hình.

 

Bên cạnh những giá trị hữu hình, dễ nhìn thấy, những giá trị cảm xúc vô hình đóng một vai trò quan trọng trong quan hệ giữa thương hiệu và khách hàng. Giá trị cảm xúc khó tạo ra nhưng khi đã tạo ra được rồi thì thường bền lâu. Chiếc áo nầy phải do một nhà sản xuất (hoặc nhà thiết kế) có uy tín tạo ra, mà chỉ cần nhìn vào thương hiệu thôi, ngưới ta có thể hình dung ra sự sang trọng, sự tinh tế, tính đẳng cấp, hoặc những cá tính đặc trưng của nó. Người ta mơ ước, mong muốn được sở hữu nó.

 

Một hệ thống nhận diện đặc trưng

 

Hệ thống nhận diện bao gồm logo, tông màu, font chữ, bao bì, vật dụng, thiết kế cửa hàng... được thiết kế phù hợp góp phần làm tôn vinh những giá trị vô hình và hữu hình của sản phẩm và nhà sản xuất, giúp nhận diện thương hiệu được dễ dàng, nổi bật khi đứng cạnh những sản phẩm khác.

 

Dưới đây là những lợi thế của một thương hiệu mạnh trong quan hệ đối với khách hàng:

 

72% khách hàng nói họ chấp nhận trả 20% cao hơn so với thương hiệu khác khi họ chọn mua thương hiệu mà họ yêu thích. 50% khách hàng chấp nhận trả 25% cao hơn và 40% khách hàng chịu trả đến 30% cao hơn.


25% khách hàng nói giá không là vấn đề đối với họ một khi họ đã tín nhiệm và trung thành với một thương hiệu.


Hơn 70% khách hàng nói thương hiệu là một trong những yếu tố mà họ cân nhắc khi chọn mua một sản phẩm, dịch vụ và hơn 50% thương vụ thực sự là do sự lựa chọn thương hiệu.


30% số thương vụ là dựa trên sự giới thiệu của đồng nghiệp.- 50% người tiêu dùng tin rằng sự thành công của một thương hiệu mạnh là lợi thế đối với việc đưa ra thị trường thêm sản phẩm mới và họ sẵn sàng dùng thử sản phẩm mới của một thương hiệu mà họ đã tín nhiệm.


(Theo Mr.Đỗ Hòa - www.marketingchienluoc.com)

 

 

 

Cùng PR tạo thương hiệu mạnh

 

Vấn đề thương hiệu thật ra là trung tâm của chiến lược marketing. Ngày nay do sự tham gia của nhiều học giả vào lĩnh vực này, marketing đã khoác vào bản thân của nó quá nhiều thuật ngữ chuyên môn khó hiểu.

 

Sức mạnh của thương hiệu:

 

Theo giáo sư David A. Aaker, giá trị thương hiệu gồm có bốn yếu tố cấu thành: sự trung thành của khách hàng đối với thương hiệu (brand loyalty), việc khách hàng nhận ra thương hiệu một cách mau chóng (brand awareness), chất lượng sản phẩm hay dịch vụ cung cấp trong nhận thức của khách hàng (percived quality), những liên tưởng của khách hàng khi nghe hoặc nhìn thấy thương hiệu (brand associatión).

 

Những thương hiệu bá chủ như Coca Cola, Microsoft, GM, Sony, Toyota, Nokia ... đương nhiên là có giá trị thị trường rất cao, và một trong những chiến lược xây dựng thương hiệu mạnh để nâng cao giá trị thương hiệu trên thị trường là "mở rộng thương hiệu" (brand extension). Cũng nên phân biệt thuật ngữ này với "mở rộng chức năng của cùng một sản phẩm" (line-extension).

 

Chẳng hạn để liên tục phát huy lợi thế cạnh tranh, công ty Nokia cải tiến, bổ sung thêm nhiều chức năng cho các sản phẩm điện thoại di động của mình, đó là "line-extension", không phải "mở rộng thương hiệu". Mở rộng thương hiệu chính là tạo thêm những thương hiệu mới hoặc thương hiệu phụ dựa trên cơ sở uy tín của thương hiệu đang sẵn có. Ví dụ hãng xe hơi Toyota vừa tung thêm một thương hiệu xe là Vios.

 

Dĩ nhiên, không phải nhà chiến lược nào cũng ủng hộ việc "mở rộng thương hiệu". Theo hai tác giả này, sức mạnh thương hiệu tỷ lệ nghịch với sự mở rộng thương hiệu và những thương hiệu hàng đầu chỉ tập trung vào một thế "định vị" duy nhất trong đầu óc người tiêu dùng: Coca Cola chỉ có nghĩa là "nước ngọt giải khát có gas", Nokia chỉ có nghĩa là "điện thoại di động",... Nếu Coca Cola cũng nhảy vào lĩnh vực điện ảnh, Nokia tham gia bán thức ăn nhanh, chắc chắn không sớm thì muộn họ cũng phải rút khỏi thị trường thứ hai này. Điển hình cho loại công ty ôm đồm nhất thế giới là Unilever, trên 1600 sản phẩm, nhưng dù sao Unilever không dùng tên Unilever cho các sản phẩm của mình mà cẩn thận sử dụng những thương hiệu hoàn toàn độc lập với nhau.

 

Tháng 11 năm 1989, hãng xe hơi Nissan (Nhật Bản) tung ra dòng xe Infiniti. Đến tháng 4 năm 1990, hãng này cho ra nhãn hiệu Infiniti G20, được coi là bước khởi đầu thâm nhập vào thị trường xe sang trọng của Infiniti. Tuy nhiên, nhãn hiệu này đã gặp thất bại và đến năm 1996, Nissan ngừng sản xuất Infiniti G20. Loại xe này được trang bị động cơ bốn kỳ công suất 140 mã lực, xác định thị trường mục tiêu là thị trường của những người da trắng độc thân có thu nhập cao. Hai tiêu chí quan trọng nhất họ mong muốn ở chiếc xe là: uy tín cao và độ ổn định khi chạy. Mặc dù G20 đáp ứng tương đối đầy đủ các tiêu chí này nhưng trên thực tế lại thất bại nặng nề nhất trong phân đoạn thị trường này bởi các nguyên nhân sau:

 

Thứ nhất, G20 chịu ảnh hưởng từ thất bại của 2 đời xe đầu (Q40 và M30) và chiến dịch quảng cáo lập dị của Infiniti. Thứ hai là do sự không đồng bộ trong thiết kế. Thứ ba là do Nissan đã định vị sản phẩm hoàn toàn sai lầm. G20 được tuyên bố như một chiếc xe "kiểu Nhật với cảm giác xe Đức và giá thấp hơn" nhưng do nhiều lý do làm tuyên bố này vừa không có sức thu hút, không tạo nét độc đáo lại gây ấn tượng về một sản phẩm bắt chước rẻ tiền và kém chất lượng. Nhãn hiệu xe G20 đã không thành công như mong đợi, buộc Nissan phải xác định lại thị trường mục tiêu và tái định vị sản phẩm. Đến năm 1996 thì ngừng mọi sản xuất nhãn hiệu này.

 

Muốn xây dựng được hình ảnh nhãn hiệu có giá trị lâu bền và mang giá trị vǎn hóa thì phải hiểu được tâm lý tiêu dùng. Diễn biến hành vi tiêu dùng thực sự là một đề tài khá phức tạp hiện đang tiếp tục được các chuyên gia quốc tế nghiên cứu. Những thông điệp hay và hấp dẫn luôn xuất phát từ một quá trình nghiên cứu công phu về hành vi và tâm lý nhóm mục tiêu. Điển hình của quá trình này là việc xây dựng nhãn hiệu Bino do các chuyên gia Việt Nam thực hiện. Có không ít các nhà doanh nghiệp tự mình suy luận hay phán đoán suy nghĩ của công chúng và tự mình ra quyết định mang tính chủ quan về quan điểm, tình cảm của người tiêu dùng. Đây là một việc làm mang tính rủi ro rất cao vì nó chủ quan và khập khiễng, đơn giản vì áp đặt cái mình muốn vào cái người ta cần.

 

PR ra tay:

 

"2/3 các vị giám đốc marketing và giám đốc nhãn hiệu ở Mỹ tin rằng PR giữ vai trò quan trọng hơn quảng cáo trong việc xây dựng và quảng bá thương hiệu" (nguồn "Marketing report", 1999)

 

Trong bối cảnh thị trường hiện nay, hàng hóa, dịch vụ đa dạng, phong phú, người tiêu dùng gặp khó khăn trong việc phân biệt, đánh giá sản phẩm. Mỗi doanh nghiệp đều cố gắng tạo một phong cách, một hình ảnh, một ấn tượng, một uy tín riêng cho sản phẩm của mình nhằm đem lại cho sản phẩm hình ảnh riêng, dễ đi vào nhận thức của khách hàng, nói cách khác, đưa thương hiệu vào tâm trí khách hàng.

 

"Doanh nghiệp cần tập hợp các hoạt động nhằm tạo cho sản phẩm và thương hiệu sản phẩm một vị trí xác định trên thị trường" (P. Kotler)

 

Các doanh nghiệp định vị và quảng cáo thương hiệu bằng nhiều phương pháp: thông qua quảng cáo, PR, giá cả hoặc bằng chính sản phẩm, với mục tiêu chung là làm sao đưa thương hiệu vào tâm trí khách hàng. Trong đó, có thể nói hoạt động PR có tác động tích cực trong việc quảng bá thương hiệu với các chương trình hành động được thiết kế và hoạch định tỉ mỉ, cẩn thận nhằm gặt hái được sự thừa nhận của công chúng và thông tin đến họ những họat động và mục tiêu của doanh nghiệp.

 

PR là một công cụ giao tiếp rất linh hoạt trong lĩnh vực giao tiếp marketing: bán hàng trực tiếp hoặc qua điện thoại, các họat động tài trợ, triển lãm. PR hiện đang được ứng dụng rộng rãi bởi các tổ chức từ hoạt động phi lợi nhuận đến hoạt động kinh doanh thương mại: hội từ thiện, các tổ chức, đảng phái chính trị, các doanh nghiệp, khu vui chơi giải trí, y tế...

 

Vai trò chính của PR là giúp doanh nghiệp truyền tải các thông điệp đến khách hàng và những nhóm công chúng quan trọng của họ. Khi truyền đi các thông điệp này, PR giúp sản phẩm dễ đi vào nhận thức của khách hàng, hay cụ thể hơn là giúp khách hàng dễ dàng liên tưởng tới mỗi khi đối diện với một thương hiệu. Ví dụ như tã lót Huggies đã tổ chức một chương trình PR rộng rãi được quảng cáo khá rầm rộ "Bé Huggies năng động" hoặc Unilever vận động chương trình "Gửi tặng đồng phục đi học mà bạn không dùng nữa cho bột giặt OMO" cho các nữ sinh ở các vùng xa. Chương trình này có tính từ thiện, phục vụ cho cộng đồng nên đã tranh thủ được thiện cảm của công chúng.

 

Chi phí cho hoạt động PR thấp hơn các loại hình khuyến mãi khác. Khi so sánh chi phí cho chiến dịch tiếp thị trực tiếp hoặc đăng một mẫu quảng cáo với chi phí cho một thông cáo báo chí đương nhiên mẫu thông cáo báo chí sẽ có một lượng công chúng rộng rãi hơn.

 

PR giúp doanh nghiệp tuyển dụng nhân lực tài giỏi. Thông thường người lao động thích được làm việc cho những công ty nổi tiếng vì họ tin tưởng công ty đó rất vững chắc, và họ có thể có nhiều cơ hội để thăng tiến.

 

Doanh nghiệp vừa và nhỏ có một số bất lợi trong việc quảng bá thương hiệu. Họ không có ngân sách để quảng cáo, họ cũng không có một bộ phận Marketing riêng. Chỉ có mỗi cách hữu hiệu là quảng cáo truyền miệng (word of mouth).

 

Trong thực tế ấy, hoạt động PR có thể nói là giải pháp tốt nhất cho doanh nghiệp vì nó tạo ảnh hưởng tốt, hữu hình, với chi phí thấp, tạo được tiếng vang khi chuyển tải hình ảnh doanh nghiệp đến công chúng.

 

Hơn nữa, làm PR sẽ giúp cho doanh nghiệp vượt qua những sóng gió và bão táp. Khi có khủng hoảng, doanh nghiệp đó sẽ tìm được sự ủng hộ, bênh vực, hỗ trợ từ phía cộng đồng (đây là điều kì diệu không thể bỏ tiền ra mua như đăng quảng cáo) trong việc cứu vãn uy tín và giữ gìn nguyên vẹn hình ảnh của doanh nghiệp.

 

(Theo marketingvietnam)

 

Hệ Thống Quản Trị Thương hiệu Công Ty

 

(Đỗ Hòa). Quản trị thương hiệu không chỉ dừng lại ở việc định vị, thiết kế cấu trúc và hệ thống nhận diện thương hiệu như nhiều người thường nghĩ. Tổ chức quản trị thương hiệu trong một doanh nghiệp đòi hỏi sự quan tâm đầu tư thích đáng từ cấp lãnh đạo cao nhất trong doanh nghiệp thì mới có hiệu quả.

 

Quản trị thương hiệu là gì?

 

Quản trị thương hiệu là gì? Quản trị thương hiệu có giống với quản trị sản phẩm? Trong bài Thương hiệu là gì? chúng ta có phân tích để thấy sự khác nhau giữa sản phẩm (một khái niệm vật thể) và thương hiệu (một khái niệm cảm xúc).

 

Như vậy quản trị sản phẩm là quản trị quá trình đáp ứng nhu cầu (mang tính vật chất, thông qua chức năng, ứng dụng của sản phẩm) của người tiêu dùng và khách hàng bằng những sản phẩm, dịch vụ, giải pháp nhằm tạo ra giá trị cho khách hàng và cho nhà cung cấp.

 

Còn quản trị thương hiệu là quản trị quá trình tạo ra và đáp ứng nhu cầu (cả về mặt lợi ích sản phẩm lẫn khía cạnh cảm xúc, cảm nhận, tinh thần) của người tiêu dùng, khách hàng thông qua những hoạt động tạo ra lợi ích, hình ảnh, hình tượng, giá trị, cá tính, cảm xúc... nhằm cũng để là tạo ra giá trị cho khách hàng và qua đó thu lại giá trị cho doanh nghiệp sở hữu thương hiệu.

 

Quản trị thương hiệu công ty.

 

Xây dựng nên một thương hiệu đòi hỏi rất nhiều công sức, đầu tư qua nhiều năm. Nhưng khi có thương hiệu rồi, việc quản trị thương hiệu (brand management) cũng đòi hỏi không kém công sức và tài lực. Nhiều doanh nghiệp do có phần may mắn trong quá trình xây dựng thương hiệu, hoặc do ý thức về tầm quan trọng của thương hiệu chưa đúng mức, đã xem nhẹ việc quản trị khối tài sản vô hình nầy, dẫn đến thương hiệu bị giảm sút giá trị một cách nhanh chóng.

 

Tại nhiều doanh nghiệp, nhận thức về quản trị thương hiệu chỉ dừng ở việc định vị, xác định cấu trúc thương hiệu và thiết kế hệ thống nhận diện thương hiệu. Trong khi đó, tại các tập đoàn lớn trên thế giới, thương hiệu được xác định là một tài sản vô hình đóng góp một phần gia tăng đáng kể trong tổng giá trị của doanh nghiệp, là một lợi thế cạnh tranh mang tính sống còn của doanh nghiệp, do vậy việc quản trị thương hiệu được xác định là một việc hệ trọng thuộc phạm vi trách nhiệm của cấp lãnh đạo cao nhất trong doanh nghiệp. Tại những doanh nghiệp nầy, người ta đầu tư rất thích đáng cho việc chăm sóc, gìn giữ khối tài sản vô hình và lợi thế cạnh tranh nầy.

 

Tại Marketing Chiến Lược, chúng tôi cho rằng việc quản trị thương hiệu trong các doanh nghiệp cần hướng đến sự chuẩn hóa theo mô hình dưới đây:

 

Chiến Lược Thương Hiệu

 

9 tài liệu giới thiệu chiến lược và phương thức quản trị thương hiệu trong doanh nghiệp. Bao gồm:

 

1.Thương hiệu và Nhận diện (brand and visual identity)
2.Hướng dẫn cần thiết (essential guide)
3.Chú giải Thương hiệu (brand glossary)
4.Nhân sự Quản trị Thương hiệu (brand management team)
5.Bảo đảm Thương hiệu (brand assurance)
6.Thương hiệu - Cá tính, Giá trị và Mục đích (brand - personality, values and purpose)
7.Nhãn hiệu cầu chứng (trademarks)
8.Bản quyền (copyright)
9.Cảm nhận Thương hiệu (brand perceptions)

 

Tài liệu nầy là kim chỉ nam cho hoạt động quản trị thương hiệu của doanh nghiệp

 

Quản Trị Thương Hiệu

 

Tài liệu tóm lược các nội dung quan trọng như:

 

●Tầm nhìn
●Quản trị
●Chính sách của doanh nghiệp đối với thương hiệu

 

Đo Lường Thương Hiệu

 

Tài liệu hướng dẫn cũng như là kết quả "đo lường" thương hiệu của doanh nghiệp. Lĩnh vực cần đo lường bao gồm:

 

●Đo lường Người tiêu dùng (consumer tracker)
●Đo lường Uy tín (reputation tracker) và
●Đo lường Chi phí Thương hiệu và Truyền thông (B&C expenditure tracker)

 

Chính Sách Thương Hiệu

 

Bộ tài liệu bao gồm 10 chính sách cốt lõi trong việc quản trị thương hiệu của một doanh nghiệp. Bao gồm:

 

●Khái niệm đối với Người tiêu dùng (concept to customer)
●Qui định và Chính sách (rules & policies)
●Ngành kinh doanh mới (new business)
●Sản phẩm và Dịch vụ mới (new product & services)
●Chính sách Đặt tên (naming policy)
●Bảo vệ các Nhãn hiệu cầu chứng (protection of trade marks)
●Các công cụ truyền thông có gắn thương hiệu (branded communications)
●Chính sách Bảng hiệu (signage branding policy)
●Chính sách Bao bì (packaging policy)
●Chính sách về Trang phục (branded clothing policy)
●Chính sách Hàng khuyến mãi (merchandise policy)
●Rút lui / Tái cơ cấu / Tiêu hủy (exiting/restructuring,/disposal)

 

Biểu Tượng Thương Hiệu

 

  Tài liệu bao gồm 10 nội dung quản trị biểu tượng (logo) của thương hiệu. Kèm theo là các chính sách và hướng dẫn cho các ứng dụng phổ biến nhất của biểu tượng thương hiệu

 

Quản trị Artworks

 

Bộ tài liệu hướng dẫn cho 10 lĩnh vực ứng dụng phổ biến nhất của nội dung Artwork (thiết kế sáng tạo):

 

●Thiệp Chúc Mừng (greeting card)
●Quà tặng, Đồ chơi và Trò chơi (business gifts, toys and games)
●Thẻ Nhựa (plastic cards)
●Thẻ nhân viên, Nhà thầu, Khách (staff, contractor, visitor cards)
●Bảng hiệu Nhà phân phối và Cờ (distributor signage and flags)
●Phương tiện và tàu thuyền(vehicle and vessel livery)
●Liên doanh (joint ventures)
●Xây dựng Thương hiệu Trực tuyến(online branding)
●Tiêu chuẩn Công ty(company standards)
●Tiêu chuẩn Ngành hàng(business line standards)

 

Kèm theo là tài liệu hướng dẫn áp dụng cho các ngành hàng thuộc công ty

 

Cấu Trúc Thương Hiệu

 

Cấu trúc cơ bản của thương hiệu doanh nghiệp và các tài liệu hướng dẫn thực thi cho:

 

●Các Ngành hàng
●Các Đơn vị thành viên

 

Toolkits Hỗ Trợ

 

Chương trình huấn luyện liên quan đến quản trị thương hiệu dành cho các vị trí khác nhau trong tổ chức.

 

Các Toolkits được dựng sẵn giúp hỗ trợ công tác huấn luyện quản trị thương hiệu trong doanh nghiệp.


Lỡ đi đến đây rồi, có hứng thú quá nên Đẩu tui chân thành tặng các bạn luôn "bí kíp" về Marketing dưới đây. Cùng tham khảo nhen!

 

Tâm lý marketing và 9 nguyên tắc trong hành vi con người



Tâm lý học có thể được khai thác trong mọi lĩnh vực, dĩ nhiên, marketing không nằm ngoài số đó.
Tâm lý học sẽ là yếu tố dẫn đến sự thành công trong marketing nếu bạn hiểu đúng về nó.

 

1. "Có đi có lại” – Reciprocity

 

Influence: The Psychology of PersuationĐược giới thiệu trong cuốn sách tâm lý học "Influence: The Psychology of Persuation” của Giáo sư Robert Cialdini, nội dung của tâm lý "có đi có lại” rất đơn giản – nếu ai đó làm điều gì cho bạn, tự nhiên bạn cũng sẽ muốn làm một điều gì đó cho họ. Nếu bạn có thể cho đi một cách chân thành, người khác sẽ tự động muốn giúp lại bạn.

 

Khi nào bạn có thể tận dụng đặc điểm tâm lý học này trong marketing?

 

Hãy tặng một thứ gì đó – miễn phí – để bước đầu xây dựng cộng đồng hoặc tính trung thành của người dùng. Thứ này có thể chính là sản phẩm bạn đang cung cấp. Bằng cách làm độc giả hứng khởi với những món quà nhỏ như vậy, bạn đã tiến thêm một bước trong việc xây dựng một mối quan hệ khách hàng bền chặt.

 

 

 

 

 

2. Sự cam kết – Commitments

 

Một nguyên lý tâm lý học khác phát triển bởi Cialdini, "sự cam kết” có thể hiểu đơn giản là việc một người không muốn thất hứa. Nếu ai đó cam kết làm một điều gì đó – đi ăn trưa hoặc đăng kí sản phẩm của bạn – nghiễm nhiên họ có nghĩa vụ thực hiện chúng. Một khi họ đã cam kết, mức độ sử dụng sản phẩm sẽ được tăng lên.

 

Khi nào bạn có thể tận dụng đặc điểm tâm lý học này trong marketing?

 

Mặc dù bạn không bao giờ nên dừng việc làm khách hàng hứng khởi (nguyên tắc 1), luôn nhớ rằng sự cam kết càng được thực hiện trong thời gian dài, độ trung thành khách hàng sẽ ngày càng tăng. Hãy nghĩ đến cơ chế định giá sản phẩm của mình. Bạn có thể giảm giá cho những khách hàng đăng kí sản phẩm trong 12 tháng thay vì chỉ một tháng không? Một khi bạn đạt được sự cam kết của khách hàng – tiếp sức cho chúng bằng sản phẩm và dịch vụ tuyệt vời.

 

3. Thẩm quyền – Authority

 

Theo nguyên tắc tâm lý học, khi ai đó thấy rằng bạn có thẩm quyền, họ sẽ tin bạn nhiều hơn.

 

Khi nào bạn có thể tận dụng đặc điểm tâm lý học này trong marketing?

 

Hãy tăng độ thẩm quyền trong nội dung bạn mang đến với độc giả bằng cách dẫn nguồn cụ thể. Bằng cách này, độc giả sẽ đánh giá cao nội dung của bạn và bạn đang bước đầu đi đúng hướng trong việc hình thành Thought Leadership (lãnh đạo bằng suy nghĩ) cho thương hiệu.

 

4. Hiệu ứng - Social Proof

 

Để hiểu về Social Proof bạn có thể tưởng tượng mình đang ở trong một bữa tiệc. Nhạc nổi lên và lúc này mọi người đều ngại ngần không muốn ra nhảy. Thế nhưng, một khi đã có ai đó dẫn đầu, những người còn lại sẽ nhanh chóng theo đuôi tham gia vào cuộc vui.

 

Khi nào bạn có thể tận dụng đặc điểm tâm lý học này trong marketing?

 

Hãy tận dụng Social Proof trên các kênh nội dung của bằng cách thêm vào các nút như Share / Follow vào một vị trí bắt mắt. Điều này thực sự sẽ có một ảnh hưởng tích cực đến độ lan truyền thông tin.

 

5. Thích – Liking

 

Cũng theo nhà tâm lý học Cialdini, "liking” có nghĩa là bạn nếu cảm thấy một quan điểm, tình cảm tích cực với một người hoặc một công ty, nhiều khả năng họ sẽ mua hàng của họ dù các thương hiệu khác có các chiến lược marketing thông minh đến thế nào đi nữa.

 

Khi nào bạn có thể tận dụng điều này trong marketing?

 

Liking cực kì quan trọng trong việc phát triển thương hiệu. Nhớ rằng, để được "likeable” (yêu thích) không đồng nghĩa với việc bạn cần phải "nice” (chơi đẹp). Bạn có thể làm bất cứ điều gì mình muốn miễn là độc giả quan tâm và cảm thấy thích nó.

 

6. Sự khan hiếm – Scarcity

 

Bạn đã bao giờ mua vé máy bay và nhìn thấy dòng chữ "chỉ còn 3 ghế ở giá này” chưa? Yup! Đó chính là khan hiếm (Scarcity). Nguyên lý này bắt nguồn từ quy luật đơn giản của cung và cầu: sản phẩm càng hiếm, giá trị càng tăng.


Chú ý: Nếu bạn tận dụng nguyên lý này, từ ngữ là một điều rất quan trọng. Nếu bạn tiếp cận theo phương pháp "Chúng tôi có rất nhiều sản phẩm nhưng do một nhu cầu tăng đột biến nay chỉ còn ít thôi” nó sẽ rất hiệu quả. Tuy nhiên, nếu phương pháp tiếp cận của bạn là "Chúng tôi, ngay từ đầu, chỉ có từng này sản phẩm thôi”, mọi thứ sẽ rất khác theo hướng tiêu cực.

 

Khi nào bạn có thể tận dụng đặc điểm tâm lý học này trong marketing?

 

Đây là một chiến lược hoàn hảo trong marketing cho các sự kiện. Chúng có thể thúc đẩy doanh số vé bán ra nếu bạn email cho những người chưa đăng kí một nội dung ám chỉ "Chúng tôi chỉ còn … vé”.

 

7. Ám ảnh gần đây – Recency Illusion

 

Bạn biết đến một sản phẩm lần đầu tiên và sau đó bạn bắt đầu để ý và nhìn thấy nó thường xuyên hơn. Mặc dù đây có thể là kết quả của một chiến lược marketing đặc biệt, rất có thể nó cũng đến từ một hiệu ứng tâm lý có tên "Ám ảnh gần đây – Recency Illusion”.

 

Khi nào bạn có thể tận dụng đặc điểm tâm lý học này trong marketing?

 

Đây là thứ bạn cần để ý khi thiết kế các chiến dịch marketing – bạn cần phát triển những nội dung có tính tương thích cao chứ không phải những nội dung làm một lần cho xong. Để tránh việc thực hiện chiến lược marketing một cách cục bộ, bạn không những cần mang nội dung đến độc giả mới mà quan trọng hơn, cần củng cố thông điệp với những người đã từng tiếp cận với các chiến lược của bạn trước đó rồi.

 

8. Hiệu ứng tâm lý học nguyên bản – Verbatim Effect

 

Theo nguyên tắc này, người ta thường có xu hướng nhớ đến ý tưởng chung của một nội dung hơn là những chi tiết chúng mang lại. Để dễ hiểu hơn, một người bình thường thường nhớ đến một bài thuyết trình của bạn theo kiểu chung chung rằng nó về việc marketing cho startup chẳng hạn hơn là các chi tiết cụ thể nó mang lại.

 

Khi nào bạn có thể tận dụng đặc điểm tâm lý học này trong marketing?

 

Trong thế giới hiện nay, người ta luôn ở trong tình trạng khát tiêu đề (headline-hungry). Bạn cần gói ghém nội dung của mình một cách dễ hiểu và ngắn gọn nhất trong các tiêu đề của mình. Hãy sử dụng nó thông minh vì đó là những gì độc giả nhớ nhất.

 

9. Phân nhóm – Clustering

 

Con người chỉ có những khoảng trống có hạn trong bộ nhớ ngắn hạn của mình. Trong thực tế, hầu hết chỉ có thể nhớ được bảy mẩu thông tin cùng một lúc. Để đối mặt với nó, người ta thường có xu hướng phân nhóm các mẫu thông tin tương tự vào với nhau để dễ nhớ hơn.

 

Khi nào bạn có thể tận dụng đặc điểm tâm lý học này trong marketing?

 

Hãy làm công đoạn phân nhóm cho độc giả: nhóm các chủ đề tương tự với nhau. Bên cạnh việc dễ dàng để xem hơn, nội dung của bạn sẽ dễ dàng đi vào tâm trí người đọc.

Thanks for watching! Great Life, bạn nhé!

 

 

(Nguồn: Digitalk)

 

Gửi bình luận

Hãy nhập đầy đủ các thông tin yêu cầu trong ô có dấu (*). Không được phép sử dụng mã HTML.



Địa chỉ: 147/11, đ.Tân Lập 2, tổ 3, k.p.6, – P. Hiệp Phú – Q. 9 – TP.HCM

Điện thoại: +84.918.12.17.12  or  +84.948.12.17.12

Email: kimdaunguyen@dausaigon.com

Thống kê truy cập

3116341
Hôm nay
Trong tuần
Tất cả
1936
9526
3116341

Joomla Templates - by Joomlage.com